CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về sự phát triển của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 1. Về lịch sử Lịch sử phát triển của CHDCND Lào trước thế kỷ 14 gắn liền với sự thống trị của vương quốc Nam Chiếu. Đến thế kỷ XIV, vua Pha Ngum lên ngôi đổi tên nước thành Vương Quốc Lạn Xang hay còn gọi là Đất nước Triệu voi.
Trong nhiều thế kỷ tiếp theo, Vương Quốc Lạn Xang nhiều lần phải chống lại các cuộc xâm lược của Miến Điện (Myanma) và Sa Yam (Thái Lan). Từ thế kỷ XVIII, Sa Yam giành quyền kiểm soát Vương Quốc Lạn Xang. Từ thế kỷ XIX, lãnh thổ này nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Pháp và bị sáp nhập vào Đông Dương năm 1893. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Pháp bị Nhật thay chân ở Đông Dương.
Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, ngày 12/10/1945, Lào tuyên bố độc lập. Đầu năm 1946, Pháp quay trở lại xâm lược Vương Quốc Lạn Xang một lần nữa và mãi đến năm 1975, phong trào cộng sản Pa Thet Lào do Hoàng thân Souphanouvong lãnh đạo đã xóa bỏ chính quyền Vương Quốc Lạn Xang. Ngày 2/12/1975 Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Lào quyết định xóa bỏ chế độ quân chủ, thành lập nước CHDCND Lào, ngày này cũng được lấy làm ngày Quốc khánh của nước CHDCND Lào [103]. Về địa lý Nước CHDCND Lào có tổng diện tích 236.800 km2, có đường biên giới giáp 5 quốc gia: Phía Bắc giáp Trung Quốc, 416 km đường biên; Tây Bắc giáp Mi-an-ma, 230 km; Tây Nam giáp Thái Lan, 1.730 km; Nam giáp Campuchia, 492 km và phía Đông giáp Việt Nam, 2.
Lào có 17 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó 10 tỉnh có chung đường biên giới với Việt Nam. Dân số hiện nay khoảng 6.8 triệu người, gồm ba bộ tộc chính là Lào Lùm, Lào Thơng và Lào Sủng, ngoài ra còn khoảng gần 5% là người Việt, người Hoa, người Thái. 8 Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 05 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Thủ đô và là thành phố lớn nhất của Lào là Viêng Chăn, các thành phố lớn khác là: Louang Phrabang, Savannakhet và Cham Pa Sắc [110]. Về chính trị Đảng chính trị duy nhất của Lào là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Người đứng đầu Nhà nước là Chủ tịch nước được Quốc hội cử ra có nhiệm kỳ 5 năm. Người đứng đầu chính phủ là Thủ tướng.
Chính phủ được Chủ tịch nước đề cử và Quốc hội thông qua. Đường lối chính sách của Chính phủ do Đảng lãnh đạo thông qua 11 ủy viên Bộ Chính trị và 69 ủy viên Trung ương Đảng. Các quyết sách quan trọng của Chính phủ do Hội đồng bộ trưởng biểu quyết thông qua. Lào thông qua hiến pháp mới lần đầu tiên năm 1991.
Trong năm sau đó đã diễn ra bầu cử Quốc hội với 85 đại biểu. Các thành viên Quốc hội được bầu bằng bỏ phiếu kín. Quốc hội do cuộc bầu cử năm 1997 tăng lên thành 99 đại biểu đã thông qua các đạo luật mới mặc dù cơ quan hành pháp vẫn giữ quyền phát hành các sắc lệnh liên quan. Cuộc bầu cử gần đây nhất diễn ra từ ngày 20/03/2016 với 149 đại biểu [90].
Về kinh tế - xã hội Lào là nước nằm sâu trong lục địa, không có đường biển, có biên giới giáp với 05 quốc gia, địa lý chủ yếu là đồi núi, trong đó 47% diện tích là rừng. Có một số đồng bằng nhỏ ở vùng thung lũng sông Mê Kông hoặc các phụ lưu như đồng bằng Viêng Chăn, Sa Văn Na Khêt và Chăm pa sắc. Sau giải phóng nền kinh tế nước CHDCND Lào còn lạc hậu và kém phát triển, trong những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ. Các mục tiêu kinh tế - xã hội (KT-XH) do các kỳ đại hội và các chương trình kế hoạch 5 năm được triển khai thực hiện có hiệu quả.
Lào đang nắm bắt được thời cơ, tạo nên những bước đột phá tạo tiền đề cho một thời kỳ tăng tốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã 9 giành được độc lập, quyền dân chủ, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, kết cấu hạ tầng KT-XH được phát triển thành hệ thống, GDP liên tục phát triển, thu nhập bình quân đầu người trong năm 2015 đạt 1.970 USD, vượt 16 lần so với năm 1985, tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 6,59%, 100% các huyện trên phạm vi toàn quốc sử dụng điện thoại, hơn 51.597 km tuyến đường giao thông [103]. Về giáo dục Lào có lịch sử phát triển giáo dục lâu đời, dân tộc Lào có truyền thống hiếu học. Song trong thời kỳ phong kiến, giáo dục chủ yếu để tuyển chọn tầng lớp quan lại và tầng lớp trí thức nhằm duy trì và phát triển chế độ phong kiến đương thời.
Cuối thế kỳ XIX và đầu thế kỳ XX CHDCND Lào là thuộc địa của Pháp, nền giáo dục mà người Lào dựng lên trong lịch sử được thay thế bằng nền giáo dục của Pháp, chủ yếu để đào tạo nhân lực phục vụ cho bộ may cai trị của thực dân Pháp. Sau khi đất nước CHDCND Lào được giải phóng hoàn toàn và tuyên ngôn độc lập vào ngày 02/12/1975, trên cơ sở truyền thống phát triển lâu dài của nền giáo dục Lào, trải qua các lần đổi mới cải cách giáo dục trong suốt thời kỳ 1975 – 2017, hệ thống giáo dục hiện nay được quy định tại Điều 10 của Luật Giáo dục sửa đổi bổ sung năm 2007. Hệ thống giáo dục hiện nay bao gồm [90]: (1). Hệ thống giáo dục quốc đân gồm giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy.
Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục bao gồm: Giáo dục mầm non: có nhà trẻ và mẫu giáo. Giáo dục phổ thông: có tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Giáo dục nghề nghiệp: có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề. Giáo dục Đại học: có trình độ Cao đẳng, Đại học, Thạc sĩ và Tiến sĩ.
Về thể dục thể thao 10 Sau khi đất nước được giải phóng hoàn toàn, Đảng và Nhà nước Lào chú trọng phát triển lĩnh vực TDTT và tổ chức lại hệ thống hoạt động TDTT và coi việc đào tạo nguồn nhân lực và phát triển GDTC là mục tiêu hàng đầu để thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với nhiệm vụ to lớn mà Đảng và Nhà nước giao cho, năm 1978, Bộ Giáo dục và Thể thao (GD&TT) đã quyết định nâng Trường Trung học TDTT Viêng Chăn trở thành Trường Trung học TDTT Lào để nâng cao kiến thức cho nhân lực ngành TDTT phục vụ cho các trường tiểu học, trường phổ thông trung học, trường nghề.trên toàn quốc và làm bước đệm để phát triển phòng trào TDTT cho toàn xã hội [106], [107]. Đến năm 1980, lần đầu tiên CHDCND Lào tham dự Đại hội TDTT lớn nhất trên hành tinh, đó là Đại hội Olympic tại thủ đô Moscow (Liên Xô cũ, nay thuộc Liên bang Nga). Từ đó đến nay, CHDCND Lào là một thành viên của phong trào Olympic, tiếp tục tham gia tích cực các đại hội Olympic như: 1988 tại Seoul, Hàn Quốc; năm 1992 tại Barcelona, Tây Ban Nha.
Năm 1982, lần đầu tiên CHDCND Lào tham dự Đại hội TDTT châu Á được tổ chức tại thủ đô New Delhi nước Cộng hòa Ấn Độ và tiếp tục tham dự đến ngày nay. Thành tích tốt nhất đã đạt được trong lịch sử tham dự giải đấu lớn nhất châu Á là huy chương Bạc môn thể thao Boxing được tổ chức tại thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc năm 1990 và cũng là huy chương đầu tiên của Đoàn TDTT Lào đã từng tham dự giải đấu lớn nhất châu Á này [77], [79]. Sau nhiều năm vắng mặt tại Đại hội TDTT Đông Nam Á, đến năm 1989, Đoàn TDTT Lào trở lại tham dự Sea Games lần thứ 15 được tổ chức tại Kulalamper, Malaysia và được quyền đăng cai tổ chức Sea Games lần đầu tiên (Sea Games lần thứ 25), được tố chức tại thủ đô Viêng Chăn. Đây cũng là kỳ Sea Games thành công nhất của Đoàn thể thao nước CHDCND Lào.
Với quyết tâm phát triển phong trào TDTT của đất nước, Đảng và Nhà nước đã quyết định tổ chức Đại hội TDTT toàn quốc lần đầu tiên năm 1985 tại thủ đô Viêng Chăn với 12 nội dung thi đấu và được định kỳ tổ chức 3 năm một lần đến ngày nay. 11 Thấy được tầm quan trọng của phong trào TDTT và nâng cao thể chất cho học sinh, SV với mục tiêu phát triển toàn diện theo 3 thuộc tính và 5 phẩm chất của Bộ GD&TT đề ra, Bộ GD&TT đã có Quyết định thành lập Liên đoàn TDTT SV Lào số 4757/BGD ngày 20/12/2011, đặt trụ sở điều hành tại trường ĐHQG Lào và có nhiệm vụ tổ chức và đưa SV tham dự các Đại hội TDTT SV Đông Nam Á, châu Á và TDTT quốc tế. Lần đầu tiên sau thành lập đưa vận động viên tham dự Đại hội TDTT SV Đông Nam Á tại giải SV Đông Nam Á ở Indonesia năm 2014 và đến ngày 05/3/2016 ĐHQG Lào được quyền đăng cai tổ chức Đại hội TDTT SV toàn quốc lần thứ I và thành công tốt đẹp với thành tích nhất toàn đoàn [98]. Giới thiệu về trường Đại học quốc gia Lào Tiền thân của ĐHQG Lào là Trường Cao đẳng Sư phạm Viêng Chăn, được sáp nhập thêm các trường, học viện để trở thành ĐHQG Lào.
Trường ĐHQG Lào được thành lập theo Nghị định số 50/TTgCP, ngày 9/6/1996 của Thủ thướng Chính phủ và mở lớp Đại học đầu tiên vào ngày 5/11/1996 với số lượng 8. Quy mô đào tạo còn hạn chế do trường chưa mở rộng, đồng thời giáo viên giảng dạy còn thiếu do một số giáo viên bỏ nghề vì lương thấp, không đảm bảo cuộc sống hoặc nghỉ chế độ. Trong giai đoạn này Nhà nước chưa thực sự chú trọng đến sự phát triển của ngành giáo dục nói chung cũng như GDTC nói riêng do nhiều nguyên nhân khác nhau như kinh tế kém phát triển, chiến tranh tàn phá nặng nề nên việc đầu tư trong giai đoạn này cho giáo dục còn rất thấp [95], [96].