Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2 : Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DN. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn của công ty TNHH xuất nhập khẩu Nam Hoa Chương 4: Kết luận và đề xuất về việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty TNHH xuất nhập khẩu Nam Hoa.Lê Thị Kim Nhung SVTH: Nguyễn Thị Thương – K42D5 Luan van Trường ĐH Thương Mại Khoa kế toán - kiểm toán CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 2.Một số khái niệm cơ bản liên quan * Vốn kinh doanh: Để tiến hành bất cứ hoạt động SXKD nào,DN cũng cần phải có các yếu tố đầu vào hay nói một cách khái quát là cần phải có những phương tiện cần thiết để phục vụ cho quá trình SXKD.Những yếu tố đầu vào hay phương tiện cần thiết đó dù là tiền,lao động,hay các phương tiện khác đều phải được cấu thành bởi lao động quá khứ.Đó chính là vốn của DN.Để hoạt động SXKD của DN thực sự có hiệu quả thì điều đầu tiên mà các DN quan tâm và nghĩ đến là làm thế nào để có đủ vốn và sử dụng như thế nào để có thể đem lại hiệu quả cao nhất.Vậy,vốn được hiểu như thế nào? Có nhiều quan niệm khác nhau về vốn.Đứng trên các giác độ khác nhau ta có các cách nhìn khác nhau về vốn: - Theo quan điểm của Mark – nhìn nhận dưới giác độ của các yếu tố sản xuất thì ông cho rằng : “Vốn chính là tư bản,là giá trị mang lại giá trị thặng dư,là một đầu vào của quá trình sản xuất”.Tuy nhiên,Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.Đó chính là một hạn chế trong quan điểm của Mark.Samuelson,một đại diện tiêu biểu của học thuyết kinh tế hiện đại thì cho rằng: Đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai,còn vốn và hàng hóa vốn là yếu tố kết quả của quá trình sản xuất.Vốn bao gồm các loại hàng hóa lâu bền được sản xuất ra và được sử dụng như các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó. Một số hàng hóa vốn có thể tồn tại trong vài năm,trong khi một số khác có thể tồn tại trong một thế kỷ hoặc lâu hơn.Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hóa vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ra vừa là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. - Trong cuốn “Kinh tế học”,David Begg cho rằng: “Vốn được phân chia theo hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính”.Như vậy,ông đã đồng nhất vốn với tài sản của DN.Trong đó: GVHD: TS.Lê Thị Kim Nhung SVTH: Nguyễn Thị Thương – K42D5 Luan van Trường ĐH Thương Mại Khoa kế toán - kiểm toán Vốn hiện vật :Là dự trữ các hàng hóa đã sản xuất mà sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa khác.
Vốn tài chính :Là tiền và giấy tờ có giá của DN. Tóm lại,chúng ta có khái niệm tổng quát về vốn như sau: Vốn kinh doanh của DN là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động,sử dụng vào hoạt động SXKD nhằm mục đích sinh lời. * Vốn cố định: Vốn cố định là bộ phận vốn kinh doanh được sử dụng để hình thành và duy trì sự tồn tại của TSDH trong DN,hay nói cách khác là biểu hiện bằng tiền của TSDH của DN.Tài sản dài hạn là tài sản có thời gian sử dụng,thu hồi và luân chuyển giá trị trong thời gian hơn 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh của DN.Nó bao gồm : TSCD,bất động sản đầu tư,các khoản đầu tư tài chính dài hạn,các khoản phải thu dài hạn và các tài sản dài hạn khác. * Vốn lưu động: Vốn lưu động của DN là số vốn ứng ra để hình thành nên các TSNH nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của DN được thực hiện thường xuyên liên tục.Tài sản ngắn hạn là những tài sản có thời gian sử dụng,thu hồi và luân chuyển giá trị trong thời gian nhỏ hơn 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh.TSNH bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền,các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn,các khoản phải thu ngắn hạn,hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác.Như vậy,vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu hồi toàn bộ,hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh.
* Doanh thu: Doanh thu là biểu hiện của tổng giá trị các loại sản phẩm hàng hóa,dịch vụ mà DN đã bán ra trong một thời kỳ nhất định.Đây là bộ phận chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của DN. Hoạt động kinh doanh của DN đồng thời cũng là hoạt động tạo ra doanh thu của DN.Trong kinh doanh,doanh thu của DN bao gồm 2 bộ phận là doanh thu bán hàng và doanh thu hoạt động tài chính.Lê Thị Kim Nhung SVTH: Nguyễn Thị Thương – K42D5 Luan van Trường ĐH Thương Mại Khoa kế toán - kiểm toán Doanh thu có ý nghĩa lớn đối với toàn bộ hoạt động của DN.Doanh thu là nguồn tài chính tiềm năng quan trọng để trang trải các khoản chi phí hoạt động kinh doanh,là nguồn quan trọng để các DN có thể thực hiện được các nghĩa vụ với nhà nước như nộp các khoản thuế theo luật định,là nguồn để có thể tham gia góp vốn cổ phần,tham gia liên doanh ,liên kết với các đơn vị khác.Khi doanh thu không đảm bảo các khoản chi phí đã bỏ ra,DN sẽ gặp khó khăn về tài chính.Nếu tình trạng này kéo dài,sẽ làm cho DN không đủ sức cạnh tranh trên thị trường và gặp khó khăn trong kinh doanh. * Chi phí kinh doanh: Hoạt động kinh doanh của DN diễn ra trên các lĩnh vực sản xuất,thương mại,dịch vụ là để sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa,dịch vụ,phục vụ cho người tiêu dùng nhằm thu được lợi nhuận là muc tiêu kinh doanh của DN.Để đạt được mục tiêu đó,các DN nhất thiết phải bỏ ra những chi phí nhất định,được gọi là chi phí kinh doanh.Đó là toàn bộ những chi phí phát sinh liên quan đến hoạt động kinh doanh thường xuyên của DN trong một thời kỳ nhất định.Chi phí kinh doanh của DN bao gồm 2 bộ phận là : chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí hoạt động tài chính. - Chi phí sản xuất kinh doanh : là biểu hiện bằng tiền của các loại vật tư đã tiêu hao,chi phí hao mòn máy móc,thiết bị,tiền lương hay tiền công và các khoản chi phí khác phát sinh trong quá trình sản xuất bán hàng của DN trong một thời kỳ nhất định.
- Chi phí hoạt động tài chính : là chi phí liên quan đến hoạt động đầu tư vốn,huy động vốn và hoạt động tài chính khác của DN trong một thời kỳ nhất định. Ngoài chi phí kinh doanh đã nêu ở trên,trong hoạt động kinh doanh có thể còn phát sinh những chi phí khác.Đó là những khoản chi phí có liên quan đến hoạt động có tính chất bất thường,chi phí cho việc thu hồi các khoản nợ,chi phí về thu tiền phạt,các chi phí về tiền phạt do vi phạm hợp đồng,chi phí về thanh lý,nhượng bán TSCD… * Lợi nhuận: GVHD: TS.Lê Thị Kim Nhung SVTH: Nguyễn Thị Thương – K42D5 Luan van Trường ĐH Thương Mại Khoa kế toán - kiểm toán Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động kinh doanh của DN,là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà DN đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động của DN mang lại. Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí tạo ra doanh thu Hoạt động kinh doanh của DN đạt được lợi nhuận có ý nghĩa rất quan trọng.Lợi nhuận quyết định sự tồn tại và phát triển của DN.Nó là nguồn lực tài chính quan trọng đảm bảo cho DN tăng trưởng một cách ổn định,vững chắc,đồng thời cũng là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước.Lợi nhuận còn là nguồn lực tài chính chủ yếu để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong DN.Nó là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động SXKD của DN. Lợi nhuận trong DN bao gồm : Lợi nhuận hoạt động SXKD,lợi nhuận hoạt động tài chính,và lợi nhuận khác.Hiệu quả sử dụng vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp 2.Nội dung kết cấu và vai trò của vốn kinh doanh.
* Nội dung kết cấu của vốn kinh doanh: Vốn kinh doanh là yếu tố không thể thiếu để các DN “chào đời”,phát triển và duy trì sự phát triển của mình.Khi nói đến vốn kinh doanh của DN chúng ta chủ yếu đề cập đến những vấn đề cơ bản sau: - Vốn kinh doanh trong các DN là một loại quỹ tiền tệ đặc biệt.Mục tiêu của quỹ là phục vụ cho SXKD nhằm mục đích sinh lời và tích lũy,không phải là mục đích tiêu dùng thông thường. - Vốn của DN có trước khi diễn ra hoạt động SXKD.Tức là DN phải có một lượng tiền ứng trước để đầu tư vào các tài sản và các phương tiện cần thiết phục vụ cho kinh doanh thì quá trình SXKD mới thực hiện được.Do vậy,đã có nhiều ý kiến cho rằng: “có vốn mới có lời” hoặc là “ có đâuf tư mới có thể có lãi”. - Vốn kinh doanh của DN sau khi ứng ra,được sử dụng vào kinh doanh và sau mỗi chu kỳ hoạt động phải được thu về để ứng tiếp cho kỳ hoạt động sau.Số tiền thu về sau mỗi chu kỳ kinh doanh thường lớn hơn số tiền mà DN ứng ra ban đầu.Tuy nhiên,không phải lúc nào số tiền thu về sau mỗi chu kỳ kinh doanh của DN cũng lớn hơn số tiền GVHD: TS.Lê Thị Kim Nhung SVTH: Nguyễn Thị Thương – K42D5 Luan van Trường ĐH Thương Mại Khoa kế toán - kiểm toán ứng ra ban đầu do có rất nhiều rủi ro khác nhau trong nền kinh tế thị trường.Lúc đó ta nói DN bị lỗ trong kỳ kinh doanh đó. Để quản lý,bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh người ta tiến hành phân loại vốn.Phân loại vốn có tác dụng kiểm tra,phân tích quá trình phát sinh những loại chi phí mà DN phải bỏ ra để tiến hành SXKD.Có rất nhiều cách phân loại vốn.Tùy thuộc vào mỗi giác độ khác nhau có các cách phân loại vốn khác nhau: - Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn,có thể chia vốn kinh doanh thành 2 loại: vốn cố định và vốn lưu động.
+ Vốn cố định: Vốn cố định là một bộ phận của vốn kinh doanh.