CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN ODA VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ODA 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN ODA 1.1 Khái niệm, đặc điểm của vốn ODA 1.1 Khái niệm Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đã có lịch sử dài hơn nửa thế kỷ, phản ánh một trong những mối quan hệ quốc tế giữa một bên là các nuớc phát triển hoặc các tổ chức quốc tế và bên kia là các nuớc đang phát triển thông qua việc cung cấp các khoản viện trợ phát triển. Ở các nuớc đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, vốn ODA là một bộ phận trong cơ cấu vốn đầu tu toàn xã hội và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của nó trong tăng truởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Vậy vốn ODA là gì? ODA là ba chữ cái đầu tiên của cụm từ: Official Development Assistance, dịch sang tiếng Việt là hỗ trợ hay trợ giúp (assistance) phát triển chính thức. Vậy, vốn ODA là vốn hỗ trợ (trợ giúp) phát triển chính thức.
Cho tới nay, có nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa vốn hỗ trợ phát triển chính thức, thể hiện: Năm 1972, lần đầu tiên Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) đã đua ra khái niệm về ODA nhu sau: ODA là một giao dịch chính thức đuợc thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nuớc đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất uu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất là 25% Nếu theo Ngân hàng Thế giới (WB) thì: 5 Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là vốn bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại cộng với các khoản vay ưu đãi có thời gian dài và lãi suất thấp hơn so với mức lãi suất thị trường tài chính quốc tế. Mức độ ưu đãi của một khoản vay được đo lường bằng yếu tố cho không. Một khoản tài trợ không phải hoàn trả sẽ có yếu tố cho không là 100% (gọi là khoản viện trợ không hoàn lại).
Một khoản vay ưu đãi được coi là ODA phải có yếu tố cho không không ít hơn là 25% Theo quan điểm của (WB) khi định nghĩa vốn ODA họ chỉ đứng trên góc độ về bản chất tài chính để xem xét mà chưa chỉ rõ chủ thể quan hệ với vốn ODA và ý nghĩa của vốn ODA. Theo Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ thì: Hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt là ODA) được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ. Hình thức cung cấp ODA bao gồm: ODA không hoàn lại; ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm “yếu tố không hoàn lại” (còn gọi là “thành tố hỗ trợ”) đạt ít nhất 25%; ODA vay hỗn hợp. Như vậy, cả 3 khái niệm về ODA nói trên đều thống nhất và xoay quanh 4 vấn đề cơ bản sau: hỗ trợ phát triển chính thức là (i) mối quan hệ hợp tác phát triển mang tính “hỗ trợ” giữa quốc gia này với quốc gia khác nhằm thúc đẩy (ii) “phát triển” kinh tế xã hội thông qua con đường (iii) “chính thức” giữa cấp Nhà nước và Nhà nước, giữa Nhà nước hoặc Chính phủ với các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia và (iv) mối quan hệ “hỗ trợ phát triển chính thức” này hình thành và phát triển dựa trên nền tảng của một phần cho không (phần không hoàn lại hay còn gọi là thành tố hỗ trợ) kết tinh trong 6 tổng nguồn vốn ODA hàng năm mà nước này cam kết dành cho các nước khác để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã định với giá trị ít nhất là 25% so với tổng giá trị viện trợ.
Từ nhận xét trên, hướng nghiên cứu của đề tài được triển khai theo định nghĩa sau: “Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản cho vay với những điều kiện ưu đãi hoặc hôn hợp các khoản trên của các cơ quan tài chính thuộc các tổ chức quốc tế, các nhà nước và các tổ chức phi chính phủ nhằm hỗ trợ cho sự phát triển và thịnh vượng của các nước đang và chậm phát triển (không tính đến các khoản viện trợ cho mục đích quân sự thuần túy)”. Trong đó: Các điều kiện ưu đãi, thể hiện: Thứ nhất, có thành tố cho không chiếm ít nhất 25%. Thứ hai, lãi suất thấp. Thứ ba, thời gian ân hạn (không phải trả gốc) dài từ 3 đến 10 năm.
Thứ tư, thời gian trả nợ dài, thường từ 25 đến 40 năm. Các tổ chức kinh tế, tài chính cung cấp vốn ODA gồm: Các tổ chức Ngân hàng quốc tế: Ngân hàng Thế giới (WB); Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF); Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB); Ngân hàng Phát triển Châu Phi (FDB). Ủy ban Hỗ trợ phát triển DAC (Development Assistance Committee) thuộc Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển OECD (Organization for Economic Cooperation and Development). Các nước thành viên của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa OPEC (Organization of Petrolium Exporting Countries).
7 Một số nước công nghiệp phát triển: Ở Bắc Âu, Tây Âu, Bắc Mỹ và các nước công nghiệp mới NICs. Các nước nhận vốn ODA: Chủ yếu là các nước thuộc thế giới thứ ba gồm các nước chậm phát triển và các nước đang phát triển.2 Đặc điểm của vốn ODA Một là ODA có tính chất ưu đãi Như đã trình bày ở trên, bản thân nguồn vốn ODA bao gồm rất nhiều tính ưu đãi. Tính ưu đãi thể hiện ở phần cho không khá lớn. Còn phần cho vay chủ yếu là vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn các khoản vay thông thường rất nhiều (thường dưới 3%).
Mức độ ưu đãi nhiều hay ít được thể hiện ở mức lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ. Một khoản vay ODA thường có thời gian sử dụng vốn dài, thường 30-40 năm, gồm 2 phần: thời gian ân hạn (từ 5-10 năm) và thời gian trả nợ (gồm nhiều giai đoạn và những tỷ lệ trả nợ khác nhau ở trong giai đoạn). Trong định nghĩa ODA tại Nghị định 17- CP ngày 04/5/2001, “một khoản cho vay phải có thành tố viện trợ cho không quy đổi tối thiểu là 25% thì mới được xếp vào ODA". Thành tố viện trợ cho không giúp lượng hóa mức độ ưu đãi của một khoản vay vốn ODA so với một khoản vay thương mại thông thường.
Chính vì tính chất ưu đãi này nên nước nhận viện trợ thường sử dụng ODA vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản của ODA so với khoản vay thương mại thông thường. Hai là ODA thường gắn với các điều kiện ràng buộc ODA có tính chất ưu đãi rất lớn, vậy thì căn cứ vào đâu mà những nước phát triển lại có nguyện vọng muốn bỏ ra một lượng vốn lớn mà hiệu quả kinh tế lại rất thấp như vậy? Đó là do ODA có tính gắn liền với điều kiện chính trị. Như đã trình bày ở phần sự ra đời của ODA, lúc đầu, Mỹ viện trợ cho các nước Châu Âu (nước Tư bản chủ nghĩa) để ngăn chặn sự ảnh hưởng của Liên Xô và các nước XHCH.
Tuy nhiên, kể từ đầu thập kỷ 90, khi mà các 8 nước XHCN ở Đông Âu thay đổi thể chế chính trị thì các nước phương Tây cũng đã cung cấp ODA, tạo điều kiện cho các nước này chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. ODA gắn với điều kiện kinh tế. Các nước viện trợ nói chung đều muốn đạt được những ảnh hưởng về kinh tế, đem lại lợi nhuận cho hàng hoá, dịch vụ trong nước. Họ gắn quỹ viện trợ với việc mua hàng hoá và dịch vụ trong nước.
Việc này đã giúp cho việc tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ trong nước, làm chủ thị trường xuất khẩu. Ngoài ra, ODA còn dọn đường cho nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chảy vào các nước nhận viện trợ. ODA gắn liền với nhân tố xã hội. Uỷ ban Châu Âu chứng minh được rằng 90% dân chúng coi vấn đề phát triển là rất quan trọng.
80% dân chúng Châu Âu cho rằng phải tăng ngân sách phát triển của liên minh Châu Âu (EU). ở các nước có ODA dưới 0.7% GNP, hơn 70% dân chúng cho rằng Chính phủ nên tăng ngân sách viện trợ phát triển của nước mình. Nhật Bản, một nước cấp viện trợ lớn nhất Thế giới, 47% số người được hỏi muốn duy trì mức viện trợ hiện tại và 33% muốn tăng hơn nữa. Ba là điều kiện giải ngân ODA Giải ngân ODA được coi là thước đo năng lực tiếp nhận và sử dụng hỗ trợ phát triển chính thức.
Do vậy, vấn đề giải ngân thường xuyên được chính phủ các nước nhận tài trợ và các nhà tài trợ đặc biệt quan tâm. Đối với các loại dự án Quốc gia điều hành (Chủ yếu là ODA vay ưu đãi) thì điều kiện giải ngân thường là điều kiện khung và có nhiều hình thức giải ngân để bên tiếp nhận lựa chọn sao cho việc giải ngân thuận tiện và nhanh nhất. Loại ODA do nhà tài trợ trực tiếp quản lý thì điều kiện giải ngân chủ yếu là thanh toán trực tiếp từ người (tổ chức) đại diện bên tài trợ cho đối tác liên quan đến dự án được tài trợ, cơ quan đại diện bên nhận tài trợ (cơ quan dự án) không được mở tài khoản để tiếp nhận tiền tài trợ, không trực tiếp thanh toán các khoản 9 chi tiêu liên quan đến dự án. về phía nuớc nhận viện trợ, nguy cơ lệ thuộc vào nuớc ngoài, gánh nặng nợ nần là một thực tế khó tránh khỏi.
Chính vì những đặc điểm về kinh tế, chính trị, xã hội của ODA mà các nuớc nhận viện trợ cần phải giữ vững ổn định về đuờng lối chính trị và kinh tế, giữ đuợc bản sắc văn hoá dân tộc và thận trọng khi sử dụng ODA, tránh gánh nặng nợ nần cho đất nuớc.2 Phân loại vốn ODA 1.1 Phân loại theo hình thức cấp Phân loại theo hình thức cung cấp ODA: Có 3 loại > ODA không hoàn lại là hình thức cung cấp ODA mà bên nhận không phải hoàn trả cho bên tài trợ. Bên nhận tài trợ phải thực hiện theo các chuơng trình, dự án đã đuợc thoả thuận truớc giữa hai bên.