phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, bài báo cáo đƣợc chia thành 3 chƣơng : Chƣơng 1: Những lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn lƣu động trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lƣu động của Công ty CP sản xuất và thƣơng mại Tự Lập Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại Công ty CP sản xuất và thƣơng mại Tự Lập SVTH: Lê Thị Linh Linh 7 Lớp: ĐH TCNH - K15B Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trịnh Thị Thu Huyền CHƢƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm, đặc điểm của vốn lưu động Trong nền kinh tế quốc dân, mỗi doanh nghiệp đƣợc coi nhƣ một tế bào của nền kinh tế với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Doanh nghiệp có thể thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm lao vụ, dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có tƣ liệu sản xuất, đối tƣợng lao động, tƣ liệu lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ.
Khác với tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó đƣợc chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và đƣợc bù đắp khi giá trị sản phẩm đƣợc thực hiện. Biểu hiện dƣới hình thái vật chất của đối tƣợng lao động gọi là tài sản lƣu động, và tài sản lƣu động là đối tƣợng lao động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, mà đặc điểm của chúng là luân chuyển toàn bộ giá trị ngay một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh. Tài sản lƣu động của doanh nghiệp gồm tài sản lƣu động sản xuất và tài sản lƣu động lƣu thông. Tài sản lƣu động sản xuất gồm những vật tƣ dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất đƣợc liên tục, vật tƣ đang nằm trong quá trình sản xuất chế biến và những tƣ liệu lao động không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định.
Thuộc về tài sản lƣu động sản xuất gồm: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang, công cụ lao động nhỏ. Tài sản lƣu động lƣu thông gồm: Sản phẩm hàng hoá chƣa tiêu thụ, vốn bằng SVTH: Lê Thị Linh Linh 8 Lớp: ĐH TCNH - K15B Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trịnh Thị Thu Huyền tiền, vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trƣớc. Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lƣu thông. Trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tài sản lƣu động sản xuất và tài sản lƣu động lƣu thông luôn chuyển hoá lẫn nhau, vận động không ngừng làm cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc liên tục trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ.
Để hình thành nên tài sản lƣu động sản xuất và tài sản lƣu động lƣu thông, doanh nghiệp cần phải có một số vốn thích ứng để đầu tƣ vào các tài sản ấy, số tiền ứng trƣớc về những tài sản ấy đƣợc gọi là vốn lƣu động của doanh nghiệp. Nhƣ vậy,“vốn lƣu động của các doanh nghiệp sản xuất là số tiền ứng trƣớc về tài sản lƣu động sản xuất và tài sản lƣu động lƣu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp thực hiện đƣợc thƣờng xuyên, liên tục”. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục nên vốn lƣu động cũng vận động liên tục, chuyển hoá từ hình thái này qua hình thái khác gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lƣu động. Sự vận động của vốn lƣu động qua các giai đoạn có thể mô tả bằng sơ đồ sau: T T-H-SX-H’- T’ ΔT Đối với doanh nghiệp thuộc lĩnh vực lƣu thông, quá trình vận động của vốn lƣu động theo trình tự sau: T T – H – T’ ΔT Sự vận động của vốn lƣu động trải qua các giai đoạn và chuyển hoá từ hình thái ban đầu là tiền tệ sang các hình thái vật tƣ hàng hoá và cuối cùng quay trở lại hình thái tiền tệ ban đầu gọi là sự tuần hoàn của vốn lƣu động.
Cụ thể là sự tuần hoàn của vốn lƣu động đƣợc chia thành các giai đoạn nhƣ sau: - Giai đoạn 1(T-H): Khởi đầu vòng tuần hoàn, vốn lƣu động dƣới hình thái SVTH: Lê Thị Linh Linh 9 Lớp: ĐH TCNH - K15B Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trịnh Thị Thu Huyền tiền tệ đƣợc dùng để mua sắm các đối tƣợng lao động để dự trữ cho sản xuất. Nhƣ vậy ở giai đoạn này vốn lƣu động đã từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vốn vật tƣ hàng hoá. - Giai đoạn 2(H-SX-H’): Ở giai đoạn này doanh nghiệp tiến hành sản xuất ra sản phẩm, các vật tƣ dự trữ đƣợc đƣa dần vào sản xuất. Trải qua quá trình sản xuất các sản phẩm hàng hoá đƣợc chế tạo ra.
Nhƣ vậy ở giai đoạn này vốn lƣu động đã từ hình thái vốn vật tƣ hàng hoá chuyển sang hình thái vốn sản phẩm dở dang và sau đó chuyển sang hình thái vốn thành phẩm. - Giai đoạn 3:(H’-T’): Doanh nghiệp tiến hành tiêu thụ sản phẩm và thu đƣợc tiền về và vốn lƣu động đã từ hình thái vốn thành phẩm chuyển sang hình thái vốn tiền tệ trở về điểm xuất phát của vòng tuần hoàn vốn. Vòng tuần hoàn kết thúc. So sánh giữa T và T’, nếu T’ >T có nghĩa doanh nghiệp kinh doanh thành công vì đồng vốn lƣu động đƣa vào sản xuất đã sinh sôi nảy nở, doanh nghiệp bảo toàn và phát triển đƣợc vốn lƣu động và ngựơc lại.
Đây là một nhân tố quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng đồng vốn lƣu động của doanh nghiệp. Do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc tiến hành thƣờng xuyên liên tục nên vốn lƣu động của doanh nghiệp cũng tuần hoàn không ngừng, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ gọi là sự chu chuyển của vốn lƣu động. Do sự chu chuyển của vốn lƣu động diễn ra không ngừng nên trong cùng một lúc thƣờng xuyên tồn tại các bộ phận khác nhau trên các giai đoạn vận động khác nhau của vốn lƣu động. Khác với vốn cố định, khi tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn lƣu động luôn thay đổi hình thái biểu hiện, chu chuyển giá trị toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Phân loại vốn lưu động * Dựa theo vai trò vốn lƣu động trong quá trình tái sản xuất - Vốn lƣu động trong khâu dự trữ sản xuất: vốn nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu đóng gói, công cụ, SVTH: Lê Thị Linh Linh 10 Lớp: ĐH TCNH - K15B Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trịnh Thị Thu Huyền dụng cụ. - Vốn lƣu động trong khâu sản xuất: vốn sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm tự chế, chi phí trả trƣớc… - Vốn lƣu động trong khâu lƣu thông: vốn thành phẩm, hàng hóa, vốn bằng tiền, các khoản phải thu,… * Dựa theo hình thái biểu hiện - Vốn vật tƣ hàng hóa là các khoản vốn lƣu động có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể nhƣ là: vốn nguyên, nhiên vật liệu; vốn sản phẩm dở dang; vốn hàng thành phẩm, hàng tồn kho; vốn chi phí trả trƣớc. - Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: phân loại theo cách này để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét, đánh giá, khả năng thanh toán của doanh nghiệp. - Vốn đầu tƣ tài chính ngắn hạn * Dựa theo nguồn hình thành Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lƣu động đƣợc hình thành bằng vốn của doanh nghiệp hay từ các khoản nợ.
Từ đó có các quy định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lƣu động hợp lý hơn. Có thể chia vốn lƣu động thành hai loại dựa theo nguồn hình thành: - Nguồn vốn chủ sở hữu: là số vốn lƣu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối và định đoạt, bao gồm: nguồn ngân sách; liên doanh, liên kết; nguồn vốn cổ phần, tự bổ sung… - Nợ phải trả: nguồn vốn đi vay, nguồn vốn trong thanh toán. Vai trò của vốn lưu động đối với doanh nghiệp Vốn trong các doanh nghiệp có vai trò quyết định đến việc thành lập, hoạt động và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất của sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp.
Là một bộ phận không thể thiếu đƣợc trong vốn kinh doanh của các doanh nghiệp, vốn lƣu động có những vai trò chủ yếu sau. SVTH: Lê Thị Linh Linh 11 Lớp: ĐH TCNH - K15B Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trịnh Thị Thu Huyền Một là: Vốn lƣu động giúp cho các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách liên tục có hiệu quả. Nếu vốn lƣu động bị thiếu hay luân chuyển chậm sẽ hạn chế việc thực hiện mua bán hàng hoá, làm cho các doanh nghiệp không thể mở rộng đƣợc thị trƣờng hay có thể bị gián đoạn sản xuất dẫn đến giảm sút lơị nhuận gây ảnh hƣởng xấu đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hai là: Do đặc điểm của vốn lƣu động là phân bố khắp trong và ngoài doanh nghiệp, đồng thời chúng lại chu chuyển nhanh nên thông qua quản lý và sử dụng vốn lƣu động, các nhà tài chính doanh nghiệp có thể quản lý toàn diện tới việc cung cấp, sản xuất và phân phối của doanh nghiệp.
Chính vì vậy, có thể nói rằng vốn lƣu động là một công cụ quản lý quan trọng. Nó kiểm tra, kiểm soát, phản ánh tính chất khách quan của hoạt động tài chính thông qua đó giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu trong kinh doanh nhƣ khả năng thanh toán, tình hình luân chuyển vật tƣ, hàng hoá, tiền vốn, từ đó có thể đƣa ra những quyết định đúng đắn đạt đƣợc hiệu quả kinh doanh cao nhất.