CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN FDI 1. Khái niệm vốn FDI Khoản 1 Điều 2 Luật Đầu tu nước ngoài tại Việt Nam từ năm 1996 đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”. Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là một khoản đầu tư với những quan hệ, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác.
Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó. Hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) cũng đưa ra một khái niệm về FDI. Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI. Cụ thể, FDI gồm có 3 bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty.
Trong đó: - Vốn đầu tư cổ phần: là cổ phần của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài mua từ doanh nghiệp ở nước tiếp nhận đầu tư, không phải cổ phần của doanh nghiệp trong nước tại nước đi đầu tư. - Thu nhập tái đầu tư: là cổ tức không được chuyển cho nhà đầu tư nước ngoài mà được giữ lại nhằm mục đích tái đầu tư. - Các khoản vay trong công ty: là các khoản vay ngắn hạn và dài hạn 5 giữa công ty mẹ và công ty thành viên. Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa: đầu tu trực tiếp nuớc ngoài là nguời sở hữu tại nuớc này hoặc mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nuớc khác.
Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tu trả cho một thực thể kinh tế của nuớc ngoài để có ảnh huởng quyết định đối với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đua ra khái niệm: “một doanh nghiệp đầu tu trực tiếp là một doanh nghiệp có tu cách pháp nhân hoặc không có tu cách pháp nhân trong đó nhà đầu tu trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu hoặc có quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tu trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty”. Tuy nhiên không phải tất cả các quốc gia đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định FDI.
Trong thực tế có những truờng hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tu nhỏ hơn 10% nhung họ vẫn đuợc quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc lớn hơn vẫn chỉ là nguời đầu tu gián tiếp. Hoa Kỳ là một trong những nuớc tiếp nhận đầu tu và tiến hành đầu tu lớn nhất trên thế giới cũng đua ra định nghĩa về FDI: “FDI là bất kỳ dòng vốn nào thuộc sở hữu đa phần của công dân hoặc công ty của nuớc đi đầu tu có đuợc từ việc cho vay hoặc dùng để mua sở hữu của doanh nghiệp nuớc ngoài” và Hoa Kỳ coi việc sở hữu đa phần chỉ cần chiếm 10% giá trị của doanh nghiệp nuớc ngoài. Quan điểm về FDI của Việt Nam theo quy định tại khoản 1 điều 2 Luật đầu tu nuớc ngoài đuợc sửa đổi bổ sung năm 2006: “ Đầu tu trực tiếp nuớc ngoài là việc nhà đầu tu nuớc ngoài đua vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tu theo quy định của luật này”, trong đó nhà đầu tu nuớc ngoài đuợc hiểu là tổ chức kinh tế, cá nhân nuớc ngoài đầu tu vào Việt Nam. 6 => Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quôc gia đó đê được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiêm soát một thực thê kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tôi đa hóa lợi ích của mình ”.
Nguồn gốc và bản chất của FDI FDI là đời muộn hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác vài ba thập kỷ nhưng FDI nhanh chóng xác lập vị trí của mình trong quan hệ kinh tế quốc tế. FDI trở thành một xu thế tất yếu của lịch sử, một nhu cầu không thể thiếu của mọi nước trên thế giới kể cả những nước đang phát triển, những nước công nghiệp mới hay những nước trong khối OPEC và những nước phát triển cao. Bản chất của FDI là: • Có sự thiết lập về quyền sở hữu về tư bản của công ty một nước ở một nước khác • Có sự kết hợp quyền sở hữu với quyền quản lí các nguồn vốn đã được đầu tư • Có kèm theo quyền chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lí • Có liên quan đến việc mở rộng thị trường của các công ty đa quốc gia • Gắn liền với sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tế. Đặc điểm vốn FDI Ngoài các đặc điểm vốn có của hoạt động đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTTTNN) còn có đặc điểm sau: • Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân hoặc tổ chức kinh tế nước ngoài do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm theo nguyên tắc “lời ăn lỗ chịu”.
Ngoài sự lưu chuyển của vốn còn có thêm sự luân chuyển công nghệ giữa nước đầu tư 7 và nước nhận đầu tư. • về vốn góp: các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một lượng vốn “đủ lớn” để họ có quyền trực tiếp tham gia điều phối và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh. Mức độ “đủ lớn” của nguồn vốn tùy theo quy định của từng quốc gia. • Về quyền kiểm soát: quyền kiểm soát của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp.
Nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn thì quyền điều hành hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư nước ngoài, có thể trực tiếp hoặc thuê người quản lý. Nếu thành lập liên doanh thì chủ đầu tư nước ngoài tham gia điều hành tùy theo mức vốn góp của mình. • Về tỷ lệ phân chia lợi nhuận: dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh, lợi nhuận được phân chia dựa trên tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định sau khi đã trừ đi các khoản phải đóng góp khác. Do vậy thu nhập của nhà đầu tư nước ngoài thường không ổn định.
• Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường mang tính rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn lâu và khó thu hồi vốn hơn đầu tư gián tiếp do phần lớn vốn đầu tư của nhà đầu tư nằm trực tiếp trong máy móc nhà xưởng tại nước sở tại. Phân loại FDI 1. Căn cứ vào mục đích đầu tư Theo lý thuyết đầu tư quốc tế của John H. Do đó, FDI cũng được phân loại theo 3 mục đích này; tuy vậy trên thực tế, việc FDI chảy vào một quốc gia có thể là kết hợp của nhiều mục đích.
- FDI nhằm tìm kiếm nguồn tài nguyên 8 Vào thời kỳ đầu của hoạt động đầu tu nuớc ngoài, nguồn tài nguyên dồi dào là động lực lớn nhất thúc đẩy các nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội kinh doanh ở nước ngoài. Các nhà đầu tư có thể khai thác nguồn tài nguyên, lao động, địa điểm du lịch, tài sản trí tuệ. của nước chủ nhà, và cũng là tránh các tài nguyên lọt vào tay đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, sau chiến tranh thế giới thứ II, đặc biệt là vào những thập kỉ 60, 70 của thế kỷ XX, vai trò của nguồn tài nguyên trong thu hút FDI đã suy giảm.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tài nguyên có vai trò đem lại lọi the SO sánh trong hoạt động thương mại quốc tế nhiều hơn là thúc đẩy đầu tư quốc tế. Nhưng nhìn chung, tài nguyên vẫn là một yếu tố hấp dẫn các nhà đầu tư FDI, đặc biệt là những nước giàu tài nguyên như tiểu vùng sa mạc Sahara, Australia, Đông Nam Á,. - FDI nhằm tìm kiếm hiệu quả FDI theo mục đích này nhằm tận dụng chi phí đầu vào thấp ở nước chủ nhà như nguyên vật liệu, nhân công, dịch vụ thuê mặt bằng, điện nước, thông tin liên lạc, vận tải, chi phí thuế thấp và các điều kiện ưu đãi khác. - FDI nhằm tìm kiếm thị trường FDI theo mục đích này nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh ra nước ngoài, hoặc để tránh thị trường rơi vào tay đối thủ.
Việc đầu tư phụ thuộc vào những yếu tố của nước chủ nhà như quy mô thị trường môi trường pháp lý, quan hệ quốc tế. Căn cứ vào phương thức đầu tư - Đầu tư mới (Greenfield Investment): Khái niệm: Là hình thức FDI mà các nhà đầu tư (thường là MNEs) tiến hành mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hoạt động đầu tư cụ thể: thành lập công ty con, mở chi nhánh, góp vốn thành lập doanh nhiệp liên doanh, và ký hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC). - Đầu tư sẵn có (Brownfield Investment) 9 Khái niệm: Là hình thức FDI trong đó các chủ đầu tư nước ngoài rót vốn vào doanh nghiệp sẵn có ở nước nhận đầu tư.
Hoạt động đầu tư cụ thể: góp vốn vào doanh nghiệp sẵn có, cấp tín dụng dài hạn, và tái đầu tư bằng lợi nhuận của kỳ trước. - Mua lại và sáp nhập (M&A) Đây là hình thức FDI còn khá mới mẻ.Trong đó, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành mua lại doanh nghiệp trong nước, hoặc doanh nghiệp trong nước sáp nhập với doanh nghiệp nước ngoài. Khác 2 phương thức trước, FDI theo hình thức M&A không nhất thiết làm tăng lượng vốn đầu tư vào nước chủ nhà.