MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tài sản của doanh nghiệp vô cùng quan trọng cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Để phát huy được hết giá trị và gia tăng hiệu quả sử dụng tài sản đòi hỏi doanh nghiệp cần có các biện pháp quản lý và sử dụng khoa học, hợp lý. Tổng công ty Viễn thông MobiFone là một trong ba doanh nghiệp viễn thông lớn của Việt Nam, có khối lượng tài sản rất lớn, đa dạng.
Trong đó chiếm tỷ lệ lớn phải kể đến là tài sản cố định trải dài khắp mọi miền đất nước. Ngoài ra là một doanh nghiệp viễn thông với thị phần trên 30%, số lượng khách hàng lớn dẫn đến nợ phải thu chiếm tỷ lệ không nhỏ trong cơ cấu tổng tài sản. Sử dụng hiệu quả tài sản phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo an toàn tài chính, an toàn thanh khoản, bảo toàn và phát triển vốn là nhiệm vụ rất quan trọng của doanh nghiệp. Trong quá trình 28 năm hình thành và phát triển, tài sản của MobiFone được sử dụng để tạo ra doanh thu lợi nhuận và không ngừng luôn chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên trước các biến đổi, thách thức của nền kinh tế, của thị trường, thị trường viễn thông bão hòa, doanh thu viễn thông xu hướng giảm dẫn tới dòng tiền giảm xuống, khả năng sinh lời của tài sản bị hạn chế. Cạnh tranh giữa các nhà mạng tăng lên, việc khách hàng từ bỏ dịch vụ chuyển sang sử dụng dịch vụ của đối thủ dẫn đến nợ phải thu khó đòi tăng. Đồng thời, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, đòi hỏi tất cả các doanh nghiệp nói chung và đặc biệt là các doanh nghiệp viễn thông như MobiFone phải chuyển đổi số mạnh mẽ, đầu tư khoa học công nghệ, máy móc thiết bị mới. Tuy nhiên, giai đoạn 2015 – 2020 tại MobiFone tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản của MobiFone trong đạt mức cao nhất là 23,36% vào năm 2015 và giảm xuống còn 11,95% vào năm 2020, giảm gần một nửa.
Hiệu quả sử dụng TSLĐ của MobiFone năm 2015 đạt 41%, đạt mức cao nhất vào năm 2017 là 80% và giảm dần về 2 mức 27% vào năm 2020; chỉ tiêu này giảm hơn 3 lần trong 4 năm (2017 – 2020). Hiệu suất sử dụng tài sản cố định của MobiFone năm 2015 đạt 3,5 lần, đạt cao nhất vào năm 2016 là 4,1 lần và đến năm 2020 chỉ còn 2,2 lần, giảm gần 2 lần sau 5 năm. Do vậy, việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Viễn thông MobiFone là thực tế khách quan, cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng cần được nghiên cứu, ứng dụng triển khai. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu chung của luận văn là đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Viễn thông MobiFone, phát triển sản xuất kinh doanh.
Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp làm căn cứ khoa học phân tích thực trạng. Đánh giá thực trạng sử dụng tài sản tại Tổng công ty Viễn thông MobiFone để đưa ra các đánh giá về kết quả đạt được, tồn tại hạn chế và giải thích nguyên nhân làm căn cứ thực tiễn đề xuất các giải pháp. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Viễn thông MobiFone 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 3.2 Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung nghiên cứu, luận văn sẽ đi sâu vào nghiên cứu hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Viễn thông MobiFone dựa theo lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản gồm: sử dụng tài sản lưu động và tài sản cổ định tại Tổng công ty Viễn thông MobiFone.
3 - Về không gian: Luận văn nghiên cứu tại Tổng công ty Viễn thông MobiFone. - Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý tài sản tại Tổng công ty Viễn thông MobiFone giai đoạn 2015 – 2020 và đề xuất cho những năm tiếp theo giai đoạn 2021 - 2025. Phương pháp nghiên cứu 4.1 Quy trình thực hiện 4.2 Cơ sở lý luận để phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp Luận văn sử dụng lý thuyết về tài chính doanh nghiệp, kế toán tài chính, kế toán quản trị làm cơ sở khoa học.3 Nguồn dữ liệu được sử dụng trong luận văn Luận văn sử dụng dữ liệu thứ cấp: dữ liệu thu thập từ các tài liệu và thông tin nội bộ gồm tài liệu của Ban Tài chính – Kế toán, phòng kế toán các đơn vị trực thuộc. Nguồn dữ liệu thu thập từ bên ngoài sử dụng cho luận văn bao gồm tài liệu của Tổng cục thống kê, giáo trình, tài liệu nghiên cứu.
Các thông tin trích dẫn trong luận văn sẽ được trình bày chi tiết trong danh mục tài liệu tham khảo. Nguồn dữ liệu thứ cấp được 4 thu thập để đánh giá, phân tích, xây dựng hoàn thiện nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản.4 Phương pháp thu thập dữ liệu Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Luận văn thu thập, hệ thống hóa và phân tích các tài liệu, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã được công bố liên quan đến hiệu quả sử dụng tài sản tại doanh nghiệp như: luận văn thạc sĩ, bài báo khoa học, giáo trình tài chính doanh nghiệp, đề tài khoa học. Trên cơ sở đó, hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp làm căn cứ khoa học phân tích thực trạng. Thêm vào đó, luận văn cũng thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo quản lý, báo cáo tài chính các năm của Tổng công ty Viễn thông MobiFone, các số liệu thống kê khác liên quan đến đề tài góp phần cung cấp thông tin làm căn cứ để đánh giá thực trạng sử dụng tài sản tại Tổng công ty Viễn thông MobiFone 4.5 Phương pháp xử lý dữ liệu Dữ liệu thứ cấp: Luận văn sử dụng các phương pháp xử lý dữ liệu bao gồm phân loại, sắp xếp, phân tích, so sánh, tổng hợp thể hiện qua biểu bảng.
Kết cấu của đề tài nghiên cứu Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương sau: Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Viễn thông MobiFone Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Tổng công ty Viễn thông MobiFone 5 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa, doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh của những chủ sở hữu (nhà nước, tập thể, tư nhân) về một hay nhiều ngành. Các hãng buôn, các công ty, các xí nghiệp sản xuất và dịch vụ …, được thành lập chính thức trên cơ sở hợp pháp.
Những doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được thành lập trên cơ sở: có mục tiêu, ngành nghề kinh doanh rõ ràng, có vốn pháp định, vốn điều lệ phù hợp với quy mô và ngành nghề kinh doanh; người quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh phải có trình độ, chuyên môn tương ứng mà pháp luật đòi hỏi với một số ngành nghề. Bùi Văn Vần, Vũ Văn Ninh (2015) đã định nghĩa, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời. Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu … và sức lao động để tạo ta yếu tố đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa đó để thu lợi nhuận. Bất kỳ doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nào, hoạt động lĩnh vực kinh doanh nào đều cần có các nguồn lực kinh tế, cơ sở vật chất để tạo điều kiện và phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình.
Các nguồn lực, cơ sở vật chất này được gọi chung là tài sản của doanh nghiệp. Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa, tài sản là tất cả những gì có giá trị tiền tệ thuộc sở hữu của một cá nhân, một đơn vị hoặc của nhà nước, có thể được dùng để trả nợ, sản xuất ra hàng hóa hay tạo ra lợi nhuận bằng cách nào đó. Một tài sản có 3 đặc 6 tính không thể thiếu: lợi nhuận kinh tế có thể xảy ra trong tương lai; do một thực thể hợp pháp kiểm soát; thu được kết quả ngay từ hợp đồng kinh doanh hoặc giao dịch đầu tiên. Như vậy, có thể hiểu tài sản của doanh nghiệp là tất cả những gì có giá trị do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.
Tài sản của doanh nghiệp có thể được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư, hàng hóa, tiền, giấy tờ có giá, … hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp. Tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, như tài sản thuê tài chính, hoặc có những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai nhưng có thể không kiểm soát được về mặt pháp lý, như bí quyết kỹ thuật thu được từ hoạt động triển khai có thể thỏa mãn các điều kiện trong định nghĩa về tài sản khi các bí quyết đó còn giữ được bí mật và doanh nghiệp còn thu được lợi ích kinh tế. Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà doanh nghiệp phải chi ra.