CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử phát triển của ngành sản xuất đồ gỗ Việt Nam Nghề mộc ở Việt Nam đã ra đời từ xa xưa. Nhiều dân tộc ở vùng núi phía Tây Bắc – Việt Bắc nước ta từ lâu đã ở trong những căn nhà sàn nhỏ bằng gỗ và tre nứa đan ghép. Các dân tộc Tây Nguyên cũng sống trên các loại nhà rông bằng những cây gỗ to nguyên khối và cao lớn.
Dân tộc Kinh ở miền trung, miền bắc có kiểu nhà gỗ ba gian với nhiều đồ dùng hàng ngày bằng gỗ như phản gỗ để nằm nghỉ, khung cửi, chày cối, đũa, bát gỗ… Từ thế kỷ thứ X, cho đến thế kỷ thư XVII, XVIII các nghệ nhân mộc làm các sản phẩm một cách thủ công, nguyên liệu gỗ không qua xử lý, tạo hình sản phẩm cũng do bàn tay của người thợ…. Cho đến thế kỷ XVIV, nghề mộc bắt đầu mới bắt đầu được thực hiện một cách khoa học hơn. Vì trước đó, công nghệ chế biến đồ gỗ ở nước ngoài đã tiến bộ nhanh chóng với quy trình sản xuất hàng loạt, máy chuyên dụng,… Đầu tiên trên thế giới là tại Mỹ, bang Virnigia vào thế kỷ XVII Từ khi ứng dụng được khoa học vào nghề mộc, việc làm ra các sản phẩm đồ gỗ cũng nhanh hơn, sản phẩm có độ bền cao hơn, mẫu mã đa dạng hơn. Danh mục các sản phẩm đồ gỗ trải dài từ bàn gỗ cao cấp cho đến giường gỗ, bàn trang điểm.
Chúng ta gọi là Ngành Chế biến gỗ về sau. Các sản phẩm đồ gỗ hiện nay không chỉ mang nhiều đặc tính vượt trội như chống thấm, chống mốc, mối mọt mà còn đạt đến độ tinh xảo, vẻ đẹp sắc sảo hơn hẳn. Đồ nội thất bằng gỗ cao cấp mang đến cho không gian vẻ sang trọng, đẳng cấp.Tình hình đồ nội thất trong nước Ngành chế biến gỗ của Việt Nam không ngừng phát triển với khoảng 3.900 doanh nghiệp chế biến lam sản khác nhau. Trong đó khoảng 95% số doang nghiệp là sở hữu tư nhân, 5% daonh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước.
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm 10% về số lượng nhưng chiếm 35% về khả năng xuất khẩu hàng hóa đồ mộc. Có 26 nước và vũng lãnh thổ đầu tư vào chế biến gỗ ở Việt Nam như: Đài Loan, Hàn Quốc, Anh, Nhật Bản, Trung Quốc. Các doanh nghiệp chế biến lâm sản phân bố không đều, 70% doanh nghiệp tập chung ở Duyên Hải Miền Trung và Đông Nam Bộ, TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Định. Một số khu vực đã hình thành một số tập đoàn, khu, cụm công nghiệp chế biến gỗ lớn.
Thị trường xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam đã có nhiều biến chuyển mạnh mẽ, sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam đã có mặt ở 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với các chủng loại sản phẩm đa dạng. Khả năng xuất khẩu dồ mộc nước ta luôn đạt mức tăng trưởng cao. Năm 2012 đạt 4,57 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2013. Gỗ và các sản phẩm từ gỗ xếp thứ 7 trong 10 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất hiện nay của Việt Nam Tính đến nay có rất nhiều công ty thiết kế tại Việt Nam.
Có những thiết kế mang phong cách của nhà thiết kế, ý tưởng và sáng tạo được thể hiện qua mỗi sản phẩm. Một số Công ty thiết kế Tại Việt Nam: Để có được các sản phẩm tốt đáp ứng khách hàng chúng ta cần phải nắm bắt quy trình tạo sản phẩm, từ đó thiết kế các sản phẩm theo nhu cầu của khách hàng. Mục tiêu nghiên cứu: 3. Mục tiêu tổng quát: - Khảo sát được thực trạng sử dụng nguyên liệu gỗ Quế và có giải pháp giúp nâng cao hiệu quả sử dụng gỗ.
Mục tiêu cụ thể: - Tìm hiểu, khảo sát được thực trạng các sản phẩm từ nguyên liệu gỗ Quế sau khai thác vỏ. - Đề xuất 1 số giải pháp nâng cao chất lượng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ Quế. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: - Các sản phẩm từ gỗ Quế tại Huyện Trấn Yên – Tỉnh Yên Bái. Nội dung nghiên cứu: - Tìm hiểu các tính chất của gỗ Quế sau khai thác vỏ.
- Tìm hiểu, phân tích, đánh giá các sản phẩm từ nguồn nguyên liệu gỗ Quế đang sản xuất. - Đề xuất 1 số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng gỗ Quế. Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp kế thừa: Kế thừa các tài liệu có liên quan đến gỗ Quế và các sản phẩm liên quan tới gỗ Quế. - Phương pháp điều tra hiện trường: Điều tra, khảo sát các số liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu các cơ sở - Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến của những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực có liên quan.
- Phương pháp đồ họa vi tính: Sử dụng các phần mềm đồ họa như: Autocad. 4 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Gỗ là vật liệu có cấu tạo không đồng nhất. Trên cùng một cây, có sự khác nhau giữa phần gốc và phần ngọn. Trên một tấm gỗ, thì có sự khác nhau giữa ba mặt cắt.
Ở các loại cây khác nhau thì cũng có những khác biệt. Cùng một loài cây thì có sự khác nhau giữa các cấp tuổi. Do mục đích sử dụng gỗ khác nhau mà có các yêu cầu về nguyên liệu gỗ khác nhau. Trong công nghệ chế biến gỗ, rất nhiều yếu tố về nguyên liệu có tác động lớn tới chất lượng của sản phẩm.
Để có cơ sở cho việc định hướng sử dụng gỗ hợp lý, cần phải phân tích ảnh hưởng của đặc điểm cấu tạo, một số tính chất vật lý, Cơ học, độ pH, vỏ cây có ảnh hưởng tới công nghệ chủ yếu như : Công nghệ sản xuất ván dân , Công nghệ sản xuất ván ghép thanh, Công nghệ sản xuất đồ mộc , công nghệ sản xuất bột giấy. Kiến thức chung về gỗ Gỗ là thực vật hữu cơ được cấu tạo bởi vô số tế bào. Mỗi tế bào đều có màng bao bọc bên ngoài và ruột chứa nhiều nguyên sinh chất. Các tế bào mới sinh ra nhân thường nằm ở giữa.
Khi tế bào phất triển dan lên, nhân lệch một bên đồng thời trong ruột tế bào xuất hiện nhiều không bào. Không bào chứa đầy dịch bào. Từ lúc sinh ra cho đến khi trưởng thành, vách tế bào lúc đầu chỉ là một lớp màng mỏng gọi là vách sơ sinh, về sau nhờ tác dụng của nguyên sinh chất, vách tế bào dầy dần lên về phía trong, hình thành lớp vách thứ hai gọi là vách thứ sinh. Khi đã có lớp vách thứ sinh, tế bào mất hẳn năng lưc sinh trưởng.
Kết thúc quá trình dầy thêm của vách tế bào, nguyên sinh chất mất hết, tế bào chết đi và lúc này ruột tế bào chỉ là một khoảng trống không bào. Nghiên cứu cấu tạo gỗ là việc làm cần thiết, bởi nó là nhân tố quan trọng, là cơ sở để giải thích moi hiện tượng về gỗ. Cấu tạo và tính chất gỗ có liên quan mật thiết với nhau. Cấu tạo có the coi là biểu hiện bên ngoài của tính chất.
Vách tế bào gỗ chủ yếu do Xenlulose (C6H10O5), và Lignin tạo nên. Xenlulose có cấu trúc dịnh hình, Lignin có cấu trúc vô định hình. Lignin tồn tại trong gỗ như một chất keo gắn bó các Xenlulose lại với nhau tạo thành vách tế bào. 5 Vách tế bào chia làm 3 phần: Màng giữa, vách sơ sinh và vách thứ sinh.
Tỷ lệ giữa 3 thành phần này khác nhau chủ yếu là hàm lượng Lignin. - Màng giữa: Là thành phần nằm giữa hai tế bào cạnh nhau, cáau tạo bằng chất Pectin và thành phần cơ bản là acid-tetragalaoturonic; màng giữa là lớp màng mỏng, mức độ hóa gỗ cao. - Vách sơ sinh: Là lớp vách đầu tiên khi tế bào mới sinh ra. Vách bao bọc tế bào như một lớp da mỏng.
Mức độ hóa gỗ cao, co dãn tốt. Thành phần: Xenlulose, Hemicellulose và Lignin, Xenlulose trong vách sơ sinh có dang mixen các mixen Xenlulose trong vách sơ sinh sắp xếp không có trật tự. Vì vậy, nó không có tác dụng quyết định đến tính chất gỗ. - Vách thứ sinh: Là lớp vách hình thành sau cùng với sự hình thành tế bào gỗ, đây là lớp vách dày nhất.
Thành phần chủ yếu của lớp vách này là Xenlulose và Lignin. Các Microf brils của lớp vách thứ sinh sắp xếp có trật tự và được phân thành 3 lớp: + Lớp ngoài: Mỏng, gồm khoảng 10% tế bào vách dày, các Microf brils nằm vuông góc với trục doc của tế bào hoặc nghiêng mot góc từ 70- 90° so với trục dọc + Lớp giữa: Năm kế tiếp lớp ngoài là lớp đày nhất chiếm 85% tế bào vách dày và các Microf brils nằm song song với trục dọc của tế bào hoặc nghiêng một góc từ 10- 30° so với trục dọc. + Lớp trong: Tiếp giáp với phần ruột của tế bào, mỏng khoảng 1% tế các Microf brils sắp xếp giống lớp ngoài. Giới thiệu chung về cây Quế 2.Giá trị kinh tế Quế là loài cây đa tác dụng.Vỏ và quả Quế dùng làm thuốc, lá và vỏ khô cho tinh dầu và làm gia vị, gỗ dùng trong xây dựng và làm đồ dùng gia đình.
Đây là loài cây cho hiệu quả kinh tế cao và được trồngở nhiều nơi Theo tài liệu thống kê cho thấy: Nếu 1ha Quế sau chu kỳ 15-20 năm thu được 1,5-2 tấn vỏ trị giá 45- 6 60 triệu đồng tương ứng với 10 tấn thóc. Để thu được 10 tấn thóc phải canh tác trên 10ha lúa nương (sản lượng lúa nương 1tấn/ha/năm) hoặc 20 ha sắn hoặc ngô.Tuy nhiên trồng cây trên đất dốc không tiến hành liên tục trong 10 năm được vì sau 3-5 năm lại bỏ hoang rồi mới trở lại canh tác. Như sau trong 10 năm 1ha lúa nương chỉ canh tác được 3-5 năm và cho sản lượng 3-5 tấn thóc.Ngoài ra trồng cây lươngthực trên đất dốc liên tục còn làm tăng xói mòn đất, giảm độ phì đất, trong khi đó rừng Quế thuần loài ở 5-6 tuổi đã khép tán, dưới tán rừng Quế cây bụi thảm tươi phát triển, đất được bảo vệ và lượng lá rơi rụng có tác dụng cải tạo đất. Trong những năm 2010-2011 tại Yên Bái trồng Quế với mật độ ban đầu là 3300 cây/ha.-Chi phí cho 4 năm đầu là 7-8 triệuđồng/ha -Lợi nhuận bình quân :50-60 triệu đồng/ha Xác định hiệu quả trồng Quế tại Na Mèo, Thanh Hóa cho thấy: Sau 15 năm lợi nhuận thu được từ 1ha Quế là > 60 triệu đồng.
Như vậy trồng Quế ở các địa phương đều mang lại hiệu quả kinh tế cao 2.Công dụng của Quế 2.