ĐẶT VẤN ĐỀ Trong các loài cây lâm sản ở vùng nhiệt đới thì cây Quế đƣợc biết đến nhƣ một loại cây đặc sản đa tác dụng, vỏ Quế và các sản phẩm từ Quế của Việt Nam trở nên nổi tiếng trên thế giới. Ngoài ra, khả năng sản xuất mới dừng lại ở quy mô nhỏ, vùng gây trồng phù hợp với loài cây này hạn chế trong khi nhu cầu thị trƣờng với sản phẩm từ Quế ngày càng cao đã thúc đẩy việc nghiên cứu cải thiện giống, kỹ thuật gây trồng góp phần nâng cao sản lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng rừng trồng Quế. Ở nƣớc ta, từ khi tiến hành cải cách mở cửa đến nay, nền kinh tế đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Nhƣng cũng từ đó khoảng cách giữa miền núi và đồng bằng, giữa thành phố và nông thôn ngày càng xa.
Đời sống nhân dân đồng bào các dân tộc miền núi còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Để giải quyết tình trạng này, Đảng và Nhà nƣớc ta đã và đang tìm mọi cách để đƣa các phƣơng thức sản xuất mới áp dụng vào các vùng khó khăn, đƣa cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp để ngƣời dân có thể thoát nghèo. Một trong những cây trồng có thể giúp họ xóa đói, giảm nghèo chính là cây Quế, đặc biệt là đối với bà con dân tộc các vùng Tiên Yên, Ba Chẽ (Quảng Ninh); Văn Yên, Văn Chấn, Trấn Yên (Yên Bái); Lang Chánh, Thƣờng Xuân (Thanh Hóa); Quế phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp (Nghệ An); Trà My (Quảng Nam); Trà Bồng (Quảng Ngãi) nơi mà cây Quế rất thích hợp với điều kiện tự nhiên. Là một trung tâm lớn về Quế của cả nƣớc, đặc biệt Quế đƣợc trồng ở các huyện phía Tây của tỉnh Thanh Hóa (Thƣờng Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh…) đã nổi tiếng trong và ngoài nƣớc.
Không những nổi tiếng về chất lƣợng, Quế đƣợc trồng ở các huyện phía Tây của tỉnh Thanh Hóa (Quế thanh hóa) cũng đƣợc đánh giá là những giống Quế có hiệu quả và năng suất cao hơn những nơi trồng khác. Tuy nhiên, do khai thác bừa bãi, quá mức, năng suất thấp và giá cả không ổn định đã làm cho rừng trồng Quế ngày càng suy giảm về chất lƣợng và số lƣợng. Tại Thanh Hóa, từ năm 2000 đến nay do giá Quế rẻ, ngƣời dân chỉ tập trung khai thác diện tích Quế còn lại mà lại không quan tâm đến việc trồng mới. Do đó, sản lƣợng và chất lƣợng rừng trồng Quế dần dần bị mai một.
Theo thống kê, đến năm 2013, 2 huyện Thƣờng Xuân chỉ còn 180 ha Quế ở các xã: Vạn Xuân, Xuân Chinh, Xuân Lẹ. Tuy nhiên, cây Quế trồng ở các hộ dân mang tính tự phát, cách chăm sóc, khai thác, chế biến chỉ mang tính truyền thống, chƣa áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật nên đã làm cho cây Quế suy thoái [56].Quế thanh hóa không những bị suy giảm về diện tích trồng mà còn suy thoái cả về năng suất và chất lƣợng, hàm lƣợng tinh dầu giảm. Do vậy, nghiên cứu chọn lọc cây trội, phục tráng lại giống Quế thanh hóa nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng tinh dầu cao và nghiên cứu xác định mối tƣơng quan giữa các đại lƣợng sinh trƣởng với hàm lƣợng tinh dầu nhằm đƣa ra đƣợc những dự tính về hiệu quả kinh tế là rất cần thiết. Cùng với đó, việc tăng cƣờng công tác bảo tồn loài Quế đang là một nhiệm vụ cấp bách để có thể duy trì nguồn lợi lâu dài, phục vụ cho đời sống của chúng ta và phục vụ cho xuất khẩu.
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài: “Nghiên cứu chọn lọc cây trội, đánh giá khả năng sinh trưởng và tương quan giữa sinh trưởng và hàm lượng tinh dầu của dòng Quế (Cinnamomum cassia Blume) tại huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa” đƣợc thực hiện là rất cần thiết và có ý nghĩa. 3 C ƣơn 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới t iệu c un về c Quế 1. Đặc điểm hình thái - Cây Quế là loài cây thân gỗ, sống lâu năm, ở cây trƣởng thành có thể cao trên 15m, đƣờng kính ngang ngực (1,3m) có thể đạt đến 40cm.
- Quế có lá đơn, mọc cách hay gần đối, lá có 3 gân gốc kéo dài đến tận đầu lá và nổi rõ ở mặt dƣới của lá, các gân bên gần nhƣ song song, mặt trên của lá xanh bóng, mặt dƣới lá xanh đậm, lá trƣởng thành dài khoảng 18 – 20cm, rộng khoảng 6 – 8cm, cuống lá dài khoảng 1cm. - Quế có tán lá hình trứng, thƣờng xanh quanh năm, thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc. - Trong các bộ phận của cây Quế nhƣ vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, đặc biệt trong vỏ có hàm lƣợng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4 – 5%. - Cây Quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắt đầu ra hoa, hoa Quế mọc ở nách lá đầu cành, hoa tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo, vƣơn lên phía trên của lá, màu trắng hay phớt vàng.
- Quế ra hoa vào tháng 4,5 và quả chin vào tháng 1,2 năm sau. Quả Quế khi chƣa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 – 1,2cm, hạt hình bầu dục, 1kg hạt Quế có khoảng 2. - Hạt Quế có dầu nên khi gặp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ cao sẽ bị chảy dầu mất sức nảy mầm. - Bộ rễ Quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau, vì vậy Quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc (Nguyễn Văn Thực và các cộng tác viên, 2012)[1].
Đặc điểm sinh thái Quế có thể sinh trƣởng tốt cả ở miền Nam và miền Bắc Việt Nam. Tùy theo ở phía Nam hay phía Bắc mà quế có thể phân bố từ độ cao 200m (ở phía Bắc) cho đến 4 600 – 800m (ở phía Nam), nơi có khí hậu ôn hòa nhiệt độ từ 20 – 290C, độ ẩm không khí cao >85% và chỉ số khô hạn thấp (< 0,3) và có lƣợng mƣa hàng năm cao (2. Quế là cây trung tính, cây quế lúc nhỏ cần có bóng che thích hợp, ở 1 – 2 năm đầu cần độ tàn che 40 – 60% ánh sáng trực xạ. Khi lớn lên, mức độ chịu bóng giảm dần và mức độ ƣa sáng ngày một tăng, đến năm thứ 3 – 4 thì cây quế hoàn toàn ƣa sáng.
Quế là cây rất mẫn cảm với nhiệt độ, ở tuổi vƣờn ƣơm quế chỉ chịu đƣợc nhiệt độ 40 – 450C, cây trên rừng khả năng chịu nhiệt của lá quế có khá hơn 45 – 480C. Đặc điểm kém chịu nóng này có thể là nguyên nhân giới hạn vùng phân bố của Quế [58]. Thành phần hóa học và công dụng của Quế 1. Thành phần hóa học: Hàm lƣợng tinh dầu trong vỏ Quế khá cao (1 – 4%), còn trong lá và cành non thƣờng thấp (0,3 – 1,8%).
Tinh dầu từ vỏ có màu nâu nhạt, sánh, vị cay, thơm, ngọt, nóng, nặng hơn nƣớc; Với thành phần chính là E-cinamicaldehyde (70 - 95%); ngoài ra còn khoảng 100 hợp chất khác. Tinh dầu từ lá quế thƣờng có màu nâu đậm và thành phần chủ yếu cũng là(E)-cinamicaldehyde (60-90%). Hàm lƣợng (E)- cinamicaldehyde quyết định chất lƣợng của tinh dầu quế. Tinh dầu quế thƣơng phẩm trên thị trƣờng thế giới đòi hỏi hàm lƣợng (E)-cinamicaldehyde trong khoảng 75-95% (ISO: >80% (E)-cinamicaldehyde).
Ngoài tinh dầu, trong vỏ quế còn chứa tanin, chất nhựa, đƣờng, calci oxalat, coumarin và chất nhầy… [57]. Công dụng Quế * Trong y học: - Theo nghiên cứu của hội hóa học Hoa Kỳ “Mùi hƣơng của tinh dầu Quế giúp cải thiện trí tuệ con ngƣời”. Khi ngửi mùi hƣơng này giúp nâng cao sức tập trung, ghi nhớ và xử lý các hình ảnh nhanh và chính xác khi đang làm việc với máy tính. 5 - Có tác dụng kích thích tuần hoàn máu, hô hấp tăng lên, kích thích tăng bài tiết, tăng cƣờng co bóp tử cung, tăng nhu động ruột.
- Tinh dầu Quế dùng để xoa bóp vùng đau bầm tím do chấn thƣơng, đánh gió khi cảm. - Tinh dầu Quế có tác dụng làm ấm toàn than, khử mùi hôi, trừ cảm cúm, cảm lạnh, tiêu chảy, có tác dụng kích dục, giảm buồn phiền, chống đau cơ. - Quế đƣợc coi là một trong bốn vị thuốc rất có giá trị (Sâm, Nhung, Quế, Phụ). Nhục Quế có vị ngọt cay, tính nóng, thông huyệt mạch làm mạnh tim, tăng sức nóng, chữa các chứng trúng hàn, hôn mê mạch chạy chậm, nhỏ, yếu (trụy mạch, huyết áp hạ) và dịch tả nguy cấp.
- Tinh dầu Quế có tính sát trùng mạnh làm ức chế nhiều loại vi khuẩn đặc biệt là vi khuẩn tả. Ở các nƣớc Châu Âu Quế đƣợc sử dụng là thuốc chữa các bệnh đau bụng tiêu chảy, sốt rét, ho và một số bệnh khác (Nguyễn Văn Thực và các cộng tác viên, 2012)[1]. * Trong công nghiệp, thực phẩm: - Quế đƣợc sử dụng một khối lƣợng lớn để làm gia vị vì Quế có vị thơm, cay và ngọt có thể khử bớt đƣợc mùi tanh, gây của cá, thịt, làm cho các món ăn hấp dẫn hơn, kích thích đƣợc tiêu hóa. - Quế còn đƣợc sử dụng trong các loại bánh kẹo, rƣợu nhƣ: bánh quế, kẹo quế, rƣợu quế đƣợc sản xuất và bán rộng rãi.
Bột quế còn đƣợc nghiên cứu thử nghiệm trong thức ăn gia súc để làm tăng chất lƣợng thịt các loại gia súc, gia cầm. - Quế đƣợc sử dụng làm hƣơng vị, bột quế đƣợc trộn với các vật liệu khắc để làm hƣơng, khi đốt lên có mùi thơm, đƣợc sử dụng nhiều trong các lễ hội, đền chùa, thờ cúng trong nhiều nƣớc châu Á nhất là các nƣớc có đạo Phật, đạo Khổng Tử, đạo Hồi. - Gần đây nhiều địa phƣơng còn sử dụng gỗ Quế, vỏ Quế để làm ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ nhƣ bộ khay, ấm, chén bằng vỏ Quế, đĩa Quế, đế lót giầy có Quế. - Một số dân tộc châu Á dùng quả chin và nụ hoa Quế lấy hƣơng thơm làm bánh và ƣớp chè hay thay nƣớc hoa.
6 - Ở Ấn Độ, Quế đƣợc sử dụng rộng rãi nhƣ một thứ gia vị chủ yếu để chế biến thức ăn. - Gỗ Quế đƣợc dùng làm đồ gia dụng và ván ép. Ngƣời Dao ở miền Bắc và một số dân tộc ở huyện Trà My (Quảng Nam) và Trà Bồng (Quảng Ngãi), (Nguyễn Văn Thực và các cộng tác viên, 2012)[1]. Giá trị kinh tế Quế là cây đa tác dụng.
Vỏ và quả Quế dùng làm thuốc, lá và vỏ khô cho tinh dầu và làm gia vị, gỗ dùng trong xây dựng và làm đồ dùng gia đình. Đây là loài cây cho hiệu quả kinh tế cao và đƣợc trồng ở nhiều nơi.