CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Khái quát về quản trị nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực - Nhân lực: Bao gồm toàn bộ các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả thành viên trong hội đồng quản trị doanh nghiệp) nghĩa là mọi thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi và các giá trị đạo đức để xây dựng, duy trì và phát triển doanh nghiệp. - Nguồn nhân lực: đây là nguồn lực của tất cả mọi người cả về vật chất và tinh thần. Thể lực phụ thuộc vào sức khoẻ, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, phong cách làm việc, nghỉ ngơi của một người… Trí thông minh là nguồn tiềm tàng quan trọng của con người, đó là năng khiếu, tài năng, thái độ, niềm tin, nhân cách… Sử dụng và phát triển tiềm năng của NNL: lập kế hoạch, tuyển dụng, đào tạo, phát triển… Thuật ngữ “nguồn nhân lực” (Humans Resourses) xuất hiện vào những năm 1980 khi phương thức quản lý và sử dụng con người trong nền kinh tế lao động có sự thay đổi cơ bản. Nguồn nhân lực (NNL) là nguồn lực con người và là nhân tố quan trọng nhất của quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Để xây dựng và phát triển kinh tế, mọi quốc gia đều phải dựa vào các nguồn lực cơ bản là: tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, tiềm lực khoa học và công nghệ, vốn, cơ sở vật chất và kỹ thuật, trong đó NNL (nguồn lực con người) luôn cơ bản nhất và quyết định việc tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia. Tiếp cận vấn đề này ở nhiều khía cạnh, phương diện khác nhau mà các tác giả nhìn vấn đề này từ nhiều góc độ và đưa ra các khái niệm về NNL nhằm phù hợp với mục đích nghiên cứu và điều kiện thực tế của các quốc gia. Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ những khả năng về thể chất và tinh thần mà con người sử dụng vào quá trình làm việc, là nguồn lực quý giá nhất trong quá trình phát triển và hoạt động kinh doanh của Trung tâm. Sau đây là một số quan điểm chủ yếu về nguồn nhân lực: Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2012): “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực.” 6 Theo Trần Kim Dung (2011): “Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở cá nhân với vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người.” Theo Manmohan Joshi (2013): “Nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả những nỗ lực, kỹ năng hay khả năng của tất cả những người làm việc cho tổ chức đó.2 Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực Quản trị NNL: là toàn bộ các hoạt động, chính sách và quyết định quản lý có liên quan và ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa đơn vị và cán bộ công nhân viên của nó. Quản trị NNL đòi hỏi phải có tầm nhìn về chiến lược và gắn với chiến lược hoạt động của công ty”. “Quản trị nguồn nhân lực là nghệ thuật chọn lựa và sử dụng nhân viên sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi người đều đạt mức tối đa nhất có thể. Hay nói cách khác quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý và các hoạt động chức năng về tuyển chọn, đào tạo, động viên và duy trì nhân viên của một tổ chức nhằm đạt kết quả tối ưu cho cả tổ chức và nhân viên”.
Ở đây danh từ “Quản trị” bao gồm các khía cạnh nguồn nhân lực liên quan đến cơ cấu, điều hành và phát triển. + Cơ cấu: xây dựng cách lãnh đạo cho NNL, tạo cho các NNL hệ thống để điều khiển quá trình. + Điều hành: có nghĩa là chỉ đạo để khuyến khích khả năng học hỏi hoàn thiện liên tục việc tạo dựng cơ cấu tổ chức và điều hành tổ chức. Theo những cách hiểu và phương pháp khác nhau, có những quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực.
Ở góc độ vĩ mô, nguồn nhân lực là lực lượng dân số trong độ tuổi lao động có thể làm việc được. Khi tính toán nguồn nhân lực xã hội, Tổng cục Thống kê cũng bao gồm cả dân số ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong khu vực kinh tế quốc dân. Từ góc độ vĩ mô của một cơ quan, NNL là lực lượng lao động của mỗi cơ quan, số lượng người trong danh sách của cơ quan và tiền lương mà cơ quan trả. “Nguồn nhân lực của doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn bảo vệ quyền lợi của họ, có thể đánh giá và 7 đặt câu hỏi đối với hoạt động của quản trị gia, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh”. “Từ hai góc độ vĩ i mô và vi mô cho thấy nguồn nhân lực là tất cả tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp). Tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Nguồn nhân lực bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác tạo giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cho tổ chức của những người lao động.
Do vậy, quản trị nguồn nhân lực là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân lực thông qua các tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng viễn cảnh của tổ chức”. Ivancevich (2010): “Quản trị nguồn nhân lực nghiên cứu những việc có thể thực hiện hay nên thực hiện cốt làm sao để những người lao động làm việc có năng suất và cảm thấy hài lòng với công việc hơn”.3 Mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực: Nhằm xây dựng được một lực lượng lao động hiệu quả, người quản lý phải biết cách quản lý và sử dụng họ theo kế hoạch đề ra. Luôn luôn đánh giá khả năng làm việc của người lao động về kiến thức chuyên ngành, thành tựu và sự sáng tạo đồng thời cống hiến cho tổ chức qua kết quả đã thực hiện được và các cuộc thi. Sự phát triển lâu dài của tổ chức đòi hỏi phải đưa ra được nguồn nhân lực ổn định và không ngừng nâng cao chất lượng, có sự lớn mạnh của Trung tâm.
Mục tiêu quản lý nguồn nhân lực gồm: + Mục tiêu xã hội: Bên cạnh mục tiêu của cơ quan thì tổ chức cần hướng tới mục tiêu xã hội. Nhận thức được nhu cầu của xã hội và thoả mãn về lợi ích của xã hội thì tổ chức mới tồn tại được vững bền. + Mục tiêu cá nhân: Là việc mà người quản lý phải đặc biệt coi trọng. Để đạt được mục đích quản lý về nhân lực thì người quản lý phải tạo được điều kiện cho NLĐ nâng cao năng lực của bản thân và tạo ra điều kiện về vật chất, tinh thần.
Mọi người đều đáp ứng nhu cầu của bản thân và có những đóng góp quý giá cho những gì NLĐ xứng đáng được nhận. Đây là mong muốn chung của tất cả NLĐ. 8 + Mục tiêu của tổ chức: trả lời câu hỏi làm thế nào để cho Trung tâm của mình hoạt động một cách hiệu quả với điều kiện nguồn lực và thực tế hoạt động có hiệu quả để phù hợp với các yêu cầu khách quan và yêu cầu của môi trường bởi chính Trung tâm. + Mục tiêu của các bộ phận chức năng: Mỗi phòng ban phải làm đúng chức năng nhiệm vụ của mình, đồng thời phối hợp với các phòng ban khác để đạt được mục tiêu chung của tổ chức.4 Các chức năng cơ bản của quản trị nguồn nhân lực Hoạt động quản lý nguồn nhân lực liên quan đến tất cả các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của NLĐ nhằm đạt được hiệu quả của tổ chức và NLĐ.
Các hoạt động chính của quản trị nguồn nhân lực có thể được chia thành ba nhóm chức năng sau: a 1.1 Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực Nhóm chức năng thu hút NNL chú ý tới việc bảo đảm đủ số lượng NLĐ với trình độ cần thiết cho yêu cầu của Trung tâm. Nhằm tuyển dụng đúng người, đúng công việc. Trung tâm phải xác định những vị trí nào cần tuyển dụng dựa trên kế hoạch sản xuất, vận hành và tình hình thực tế sử dụng lao động. Thông qua phân tích công việc, sử dụng các tiêu chí tương tự để xác định số lượng lao động được tuyển.
Việc phỏng vấn và hình thức trắc nghiệm giúp tìm được ứng viên tốt nhất như mục tiêu đề ra. Chức năng của tuyển dụng gồm các hoạt động sau đây: hoạt động dự báo, hoạt động phân tích, hoạt động phỏng vấn, hoạt động kiểm tra bằng trắc nghiệm, hoạt động thu thập, hoạt động hoạch định nguồn nhân lực, hoạt động lưu trữ và hoạt động xử lý các thông tin về NNL của Trung tâm.2 Nhóm chức năng đào tạo và phát triển NNL Nhóm chức năng đào tạo và phát triển NNL tập chung vào việc nâng cao và phát triển năng lực của người lao động, đảm bảo rằng người lao động có trình độ và kỹ năng cần thiết để cho công việc của mình hoàn thành quả tốt và tạo thuận lợi để họ phát huy năng lực của bản thân. Bên cạnh đó, các cơ quan nên thường xuyên có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại người lao động khi có sự thay đổi về yêu cầu của kinh doanh, sản xuất hoặc trong các quy trình khoa học công nghệ, đào tạo kỹ năng thực hành cho đội ngũ người lao động bằng cách đẩy mạnh việc nâng cao tay nghề và cập nhật kiến thức quản lý, kỹ thuật công nghệ cho đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ.3 Nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực 9 Nhóm chức năng này tập chung vào việc duy trì và sử dụng hiệu quả NNL.