CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HÀNG GIẢ, HÀNG KÉM CHẤT LƯỢNG CẤP TỈNH 1. Quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại hàng giả, hàng kém chất lượng * Khái niệm: Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêu dùng, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 đưa ra khái niệm hàng giả bao gồm: a) Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; b) Hàng hóa có hàm lượng định lượng chất chính hoặc trong các chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; c) Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; d) Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; đ) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thương nhân khác; e) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa; g) Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; h) Tem, nhãn, bao bì giả. 8 Hàng giả có thể chứa một hoặc nhiều dấu hiệu giả như trên, ví dụ như vừa giả mạo nhãn hiệu hàng hóa vừa giả chất lượng.
Đối với quốc tế không quy định cụ thể về hàng giả, thay vào đó là quy định về quyền SHTT. Các nước tham gia vào WTO đã cùng nhau ký kết Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (Hiệp định TRIPS). Hiệp định này quy định đối với bản quyền, quy định đối với nhãn hiệu thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp. Hàng kém chất lượng là sản phẩm chính hãng nhưng vì một số lý do nào đó, chất lượng của nó không được như cam kết hoặc tương đương giá trị của nó.
*Đặc điểm: Về hàng giả: Thứ nhất, hàng giả là những sản phẩm hàng hóa được sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh trái pháp luật. Tính trái pháp luật thể hiện ở chỗ: pháp luật cấm các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng giả; các hành vi vi phạm liên quan về hàng giả sẽ bị xử lý theo các quy định pháp luật. Thứ hai, hàng giả được sản xuất dựa trên các hàng hóa đã có trên thị trường và có những đặc điểm, tính chất, kiểu dáng, các thông tin và dấu hiệu của hàng thật, hàng hóa đang được bảo hộ. Thứ ba, hàng giả được tạo ra nhằm mục đích lừa dối người tiêu dùng.
Hàng giả về nội dung không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng do giá trị sử dụng của loại hàng này thấp hơn, thậm chí không có giá trị sử dụng so với hàng thật; hàng giả về hình thức thể hiện thông qua những dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với hàng thật để tiêu thụ hàng giả; giá thành để sản xuất ra hàng giả thấp hơn nhiều so với giá thành sản xuất ra hàng thật. Về hàng kém chất lượng: Là hàng hóa được chính thương hiệu của mình sản xuất; không được 80% chất lượng cam kết; giá trị tương đương với hàng chính hãng; vẫn có những dịch vụ đi kèm như hàng chính hãng. *Phân loại: Theo quy định tại Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hàng giả được phân thành bốn nhóm: Hàng giả chất lượng và công dụng: Là những hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của hàng hóa. 9 Hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa: Hàng hóa giả mạo tên, địa chỉ của thương hiệu khác trên nhãn hoặc bao bì cùng loại hàng hóa hoặc giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp trên nhãn và bao bì sản phẩm.
Giả mạo về sở hữu trí tuệ: Hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu, của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý hoặc sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan. Các loại ấn phẩm đã in sử dụng vào việc sản xuất, tiêu thụ hàng hóa: Các loại đề can, tem, nhãn hàng hóa, mẫu nhãn hiệu hàng hóa, bao bì sản phẩm có dấu hiệu vi phạm như trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hàng hóa cùng loại, với nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi xuất xứ hàng hóa được bảo hộ. Các loại hóa đơn, chứng từ, chứng chỉ, tem, vé, tiền, ấn phẩm có giá trị như tiền, ấn phẩm và sản phẩm văn hóa giả mạo khác. Quản lý nhà nước về hàng giả, hàng kém chất lượng Quản lý là hoạt động mang tính đặc thù của con người, là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý.
Quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào và bất kỳ lúc nào khi ở đó có hoạt động chung của con người. Mục đích và nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân thành một hoạt động chung, thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động chung đó theo những phương hướng thống nhất, nhằm đạt được mục tiêu đã định trước. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý ra đời chính là muốn đạt đến hiệu quả lớn hơn, năng suất cao hơn trong công việc.
Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là quản lý công việc của Nhà nước. Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và các mục tiêu đã xác định trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. Quản lý nhà nước về kinh tế là quá trình tác động có tổ chức và bằng quyền lực của Nhà nước tới nền kinh tế nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước, tận dụng tốt nhất các cơ hội có thể có để đạt mục tiêu đã xác định về phát triển kinh tế của đất nước trong từng giai đoạn. 10 Hiệu quả quản lý nhà nước là kết quả quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy hành chính nhà nước nói riêng đạt được trong sự tương quan với chi phí bỏ ra, các nguồn lực đầu vào, trong mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả chính trị và hiệu quả xã hội.
Quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng là hoạt động một cách có tổ chức, dựa trên hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các hành vi sản xuất, buôn bán hàng hóa của các tổ chức, cá nhân nhằm đảm bảo kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng trên thị trường. Nội dung và các tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng cấp tỉnh 1. Nội dung nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng cấp tỉnh a. Xây dựng bộ máy cơ quan quản lý hành chính nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng Quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng là hoạt động đặc thù, vì bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ về phòng, chống hàng giả, hàng kém chất lượng là phòng ngừa, đấu tranh với những mặt trái của nền kinh tế thị trường, cũng như mặt trái của xã hội.
Do đó, bộ máy quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng phải được tổ chức thống nhất, có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa trung ương và địa phương; giữa các bộ, ngành, các địa phương để đáp ứng yêu cầu quản lý, kiểm soát hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng. Bộ máy quản lý đối với hàng giả, hàng kém chất lượng bao gồm các bộ, ngành như: Bộ Công Thương, Bộ Tài Chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Ủy ban nhân dân các cấp. Đặc biệt, đóng vai trò quan trọng hiện nay trong công tác quản lý đối với hàng giả, hàng kém chất lượng là Ban chỉ đạo chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả từ trung ương đến địa phương. Ở trung ương thành lập Ban chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (trước đây gọi tắt là Ban chỉ đạo 127/TW, nay gọi tắt là Ban chỉ đạo 389 quốc gia).
Trưởng Ban chỉ đạo là Phó Thủ tướng thường trực Chính Phủ và thành viên là đại diện lãnh đạo các bộ, ngành.