PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Hà Giang là một tỉnh miền núi có nhiều dân tộc thiểu số, cuộc sống người dân nơi đây tương đối khó khăn. Tuy nhiên, Hà Giang lại là tỉnh có được nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú với nhiều rừng núi, sông suối. Hệ thống sông suối dày đặc với ba con sông lớn là Sông Lô, sông Gâm và sông Chảy.
Sông Lô bắt nguồn từ vùng núi cao Trung Quốc chảy vào địa phận Hà Giang với chiều dài 97 km, diện tích lưu vực 10.104 km2, các nhánh cấp 1 của sông Lô gồm suối Nậm Ngần, Nậm Mu, Ngòi Quang, Suối Sảo. Sông Miện với chiều dài hơn 51 km, diện tích lưu vực 1. Sông Gâm có tổng chiều dài chảy qua địa phận Hà Giang là 43 km với 2 chi lưu lớn là sông Nho Quế và sông Miệm. Sông Chảy bắt nguồn từ dãy Tây Côn Lĩnh chảy qua địa bàn tỉnh là 44 km, diện tích lưu vực khoảng 816 km2 Từ lợi thế đó, tỉnh Hà Giang đã tiến hành quy hoạch các dự án thủy điện vừa và nhỏ với tổng số 72 dự án nhà máy thủy điện, tổng công suất lắp máy 768,8 MW, điện năng trung bình năm 2.855 triệu KWh/năm, giá trị sản xuất công nghiệp đạt khoảng 1.713 tỷ đồng, tổng vốn đầu tư thực hiện các dự án khoảng 13.
Đến nay, có 43 dự án được UBND tỉnh chấp thuận đầu tư, 19 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư đang tổ chức thi công, 24 dự án đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Cả 43 dự án được chấp thuận đầu tư có tổng công suất lắp máy 650 MW, đạt trên 94% công suất; vốn đầu tư xây dựng trên 13 nghìn tỷ đồng; điện năng sản xuất trung bình 2.728 triệu KWh/năm; giá trị sản xuất công nghiệp khoảng 1. Việc phát triển các hoạt động thủy điện vừa và nhỏ đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của điạ phương, góp phần cắt lũ và điều tiết nước tiết nước khu vực hạ du,. tuy nhiên các hoạt động của các hoạt động thủy điện cũng đã gây nhiều bất lợi cho môi trường và xã hội của địa phương.
Các tác động của hoạt động khai thác thủy điện luôn luôn tiền tàng, cần được điều tra đánh giá để có cái nhìn toàn diện và đầy đủ về hiện trạng, diễn biến, tác động hoạt động khai thác thủy điện và dự báo các tác động của hoạt động thủy điện đến môi trường, kinh tế, xã hội của địa phương, để đề suất và xây các biện pháp giảm thiểu tác động của hoạt động khai thác thủy điện, phát triển bền vững tài nguyên nước tỉnh Hà Giang. Do đó đề tài “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quy 1 hoạch xây dựng thủy điện vừa và nhỏ tại tỉnh Hà Giang” giúp các nhà quản lý và các nhà khoa học có cái nhìn tổng thể, các quy hoạch tương lai về hiện trạng khai thác thủy điện của Hà Giang để đưa ra các quyết định và các biện pháp giảm thiểu các tác động của hoạt động khai thác thủy điện góp phần khai thác hiệu quả tài nguyên nước mặt và phát triển bền vững tài nguyên nước mặt của tỉnh Hà Giang. Mục đích của đề tài Thông qua nghiên cứu về quy hoạch phát triển thuỷ điện của tỉnh Hà Giang và đề suất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng thuỷ điện vừa và nhỏ 3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3.
Cách tiếp cận Nghiên cứu những kết quả thực tiễn của quy hoạch xây dựng thủy điện vừa và nhỏ tại tỉnh Hà Giang để đưa ra các cơ sở lý luận rồi vận dụng vào thực tiễn 3. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thu thập số liệu Việc thu thập số liệu được tiến hành ở các tổ chức, cơ quan, cơ sở như: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch đầu tư, Sở Công thương, Chi cục thống kê, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; UBND các cấp; Phòng Tài nguyên và Môi Trường, phòng Nông nghiệp, phòng Thống kê, phòng Y tế, phòng Công thương các huyện; Trạm khí tượng - thủy văn; Các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh Hà Giang. - Phương pháp kế thừa Nhiệm vụ được phát triển trên cơ sở khai thác và kế thừa các nhiệm vụ về xây dựng cơ sở dữ liệu, các báo cáo, bản đồ, công trình xây dựng của các Viện và các Trung tâm nghiên cứu. Thu thập, phân tích các thông tin về thủy điện thông qua các dữ liệu thu thập từ nghiên cứu, báo cáo, khảo sát.
- Phương pháp phân tích tổng hợp hệ thống Sử dụng phương pháp này sẽ giúp đánh giá các thông tin một cách toàn diện trên cùng một chuẩn mực. Sự đánh giá, so sánh có tính hệ thống và khoa học, tránh được sự so sánh khập khiễng, đánh giá mang tính phiến diện. - Phương pháp thống kê điều tra thực địa 2 Sử dụng phương pháp này sẽ cho số liệu chính xác từ hiện trường. Các số liệu thống kê và điều tra thực địa sẽ cung cấp nguồn thông tin cho xây dựng cơ sở dữ đánh giá tác động của hoạt động khai thác thủy điện đến môi trường, kinh tế, xã hội của tỉnh Hà Giang,… và để dự báo và đề xuất các trong quản lý tài nguyên nước.
- Phương pháp dự báo Trên cơ sở các số liệu điều tra, thu thập, dự báo đánh giá tác động của hoạt động khai thác thủy điện đến môi trường, kinh tế, xã hội. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Công tác quy hoạch xây dựng thủy điện vừa và nhỏ và thực tiễn thực hiện quy hoạch 4. Phạm vi nghiên cứu Các dự án thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Hà Giang, giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015 5.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5. Ý nghĩa khoa học của đề tài Luận văn góp phần hệ thống hóa những cơ sở lý luận cơ bản quy định về quy hoạch xây dựng thủy điện vừa và nhỏ. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của để tài sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích giúp các nhà quản lý và các nhà khoa học có cái nhìn tổng thể, các quy hoạch tương lai về hiện trạng quy hoạch, khai thác tài nguyên nước mặt cho hoạt động thủy điện 6. Kết quả dự kiến đạt được - Đánh giá, làm rõ các tồn tại trong quy hoạch và thực hiện quy hoạch các dự án thủy điện vừa và nhỏ của tỉnh Hà Giang; - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng thuỷ điện vừa và nhỏ.
TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN VÀ NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG THỰC HIỆN CÔNG TÁC QUY HOẠCH 1. Tổng quan chung về phát triển thuỷ điện ở Việt Nam 1. Tiềm năng thủy điện Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, có lượng mưa trung bình hàng năm cao, khoảng 1. Với địa hình miền Bắc và biên giới miền Tây đồi núi cao, phía Đông là bờ biển dài trên 3.400km nên nước ta có hệ thống sông ngòi khá dày đặc với hơn 3.
Và với điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy nên tiềm năng thuỷ điện của nước ta tương đối lớn. Theo tính toán lý thuyết, tổng công suất thuỷ điện của nước ta vào khoảng 35.000MW, trong đó 60% tập trung tại miền Bắc, 27% phân bố ở miền Trung và 13% thuộc khu vực miền Nam. Tiềm năng kỹ thuật vào khoảng 26.000MW, tương ứng với gần 970 dự án được quy hoạch, hàng năm có thể sản xuất hơn 100 tỷ kWh, trong đó nói riêng thuỷ điện nhỏ có tới 800 dự án, với tổng điện năng khoảng 15 - 20 tỉ kWh/năm. Năm 2013, tổng số dự án thuỷ điện đã đưa vào vận hành là 268, với tổng công suất 14.
Hiện có 205 dự án với tổng công suất 6.1988,8 MW đang xây dựng và dự kiến đưa vào vận hành trong giai đoạn 2015-2017. Như vậy, theo kế hoạch, đến năm 2017, có 473 dự án sẽ đưa vào khai thác vận hành, với tổng công suất là 21.229,3 MW, chiếm gần 82% tổng công suất tiềm năng kỹ thuật của thủy điện. Năm 2012, các nhà máy thuỷ điện đóng góp 48,26% (13.000 MW) và 43,9% (tương ứng 53 tỷ kWh) điện năng cho ngành điện. Có thể nói, cho đến nay các dự án thuỷ điện lớn có công suất trên 100MW hầu như đã được khai thác hết.
Các dự án có vị trí thuận lợi, có chi phí đầu tư thấp cũng đã được triển khai thi công. Còn lại trong tương lai gần, các dự án thuỷ điện công suất nhỏ sẽ được đầu tư khai thác. (Nguồn: http://nangluongvietnam.vn/news/vn/nhan-dinh-phan-bien-kien-nghi/phan- bien-kien-nghi/thuy-dien-viet-nam-tiem-nang-va-thach-thuc. Về việc rà soát quy hoạch và tiến độ đầu tư xây dựng các dự án thủy điện Tại Công văn số: 3567/BCT-TCNL, ngày 24 tháng 4 năm 2013, của Bộ Công Thương V/v kết quả rà soát quy hoạch, đầu tư xây dựng và vận hành các dự án thủy điện trên cả nước, thể hiện: 1.
Kết quả rà soát quy hoạch và tiến độ đầu tư xây dựng các dự án thủy điện Theo các quy hoạch thủy điện (gồm quy hoạch bậc thang thủy điện, quy hoạch thủy điện nhỏ toàn quốc và quy hoạch thủy điện nhỏ của các tỉnh) đã được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương (trước đây là Bộ Công nghiệp) và UBND các tỉnh phê duyệt theo thẩm quyền, trên cả nước đã có tổng số 1.237 dự án với tổng công suất lắp máy N lm = 25.968,8 MW được quy hoạch. Trong quá trình quản lý quy hoạch và đầu tư xây dựng các dự án thủy điện, Bộ Công Thương đã thường xuyên chỉ đạo và xem xét điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các bậc thang thủy điện và quy hoạch thủy điện nhỏ. Đồng thời, đã tổ chức nhiều đợt rà soát tại các tỉnh để xem xét cụ thể về quy hoạch. Bộ Công Thương đã thống nhất với UBND các tỉnh loại khỏi quy hoạch 338 dự án (1.088,9 MW), gồm 02 dự án thủy điện bậc thang (118 MW) và 336 dự án thủy điện nhỏ (970,9 MW); không tiếp tục xem xét đưa vào quy hoạch các vị trí tiềm năng thủy điện nhỏ (được xác định thông qua nghiên cứu quy hoạch sơ bộ) chưa có nhà đầu tư quan tâm đầu tư phát triển với tổng số 169 vị trí (362,5 MW).
Tất cả các dự án, vị trí tiềm năng được loại bỏ nêu trên đều thuộc đối tượng hiệu quả kinh tế thấp, tiềm ẩn khả năng tác động tiêu cực đến môi trường - xã hội (MT-XH), ảnh hưởng đến quy hoạch, dự án ưu tiên khác, nhà đầu tư trả lại dự án do không khả thi hoặc không có nhà đầu tư quan tâm.