Tổng quan nghiên cứu

Quản lý chất thải rắn y tế đang là một trong những thách thức môi trường cấp bách hàng đầu tại Việt Nam, đặc biệt là tại các địa phương có mạng lưới khám chữa bệnh phát triển nhanh. Theo thống kê của Sở Y tế tỉnh Nghệ An, tính đến cuối năm 2014, toàn tỉnh có 42 cơ sở khám chữa bệnh với hơn 7.032 giường bệnh, phát sinh khối lượng chất thải rắn y tế lên tới 12.000 kg/ngày. Trong đó, lượng chất thải y tế nguy hại chiếm khoảng 1.700 kg/ngày (tương đương 14,1%), đòi hỏi quy trình xử lý kỹ thuật nghiêm ngặt nhằm ngăn ngừa nguy cơ phát tán mầm bệnh và hóa chất độc hại ra môi trường sống.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự quá tải tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập, với tỷ lệ sử dụng giường bệnh thực tế thường xuyên vượt từ 103,3% đến 123,3% so với công suất thiết kế. Đi kèm với đó, hơn 50% cơ sở y tế đã được đầu tư hạ tầng xử lý nhưng hiệu quả vận hành còn thấp, công nghệ lò đốt nhiệt độ thấp lạc hậu gây phát thải khí độc Dioxin và Furan, dẫn đến nhiều đơn thư phản ánh từ cộng đồng dân cư.

Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành Khoa học Môi trường của tác giả Phạm Thị Y Lanh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Trần Yêm tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết mục tiêu: Đánh giá toàn diện thực trạng phát sinh, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế tại 04 bệnh viện công lập đại diện trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn từ tháng 11/2014 đến tháng 03/2015. Từ các chỉ số định lượng thực tế, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp công nghệ không đốt và mô hình xử lý theo cụm nhằm nâng cao hiệu quả quản trị môi trường y tế bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 2 nền tảng lý thuyết chủ đạo: Lý thuyết Quản lý chất thải rắn tích hợp (Integrated Solid Waste Management - ISWM) và Khung đánh giá rủi ro môi trường y tế. Mô hình ISWM nhấn mạnh thứ bậc ưu tiên từ giảm thiểu tại nguồn, phân loại chính xác, thu gom riêng biệt, tái chế an toàn đến xử lý tiêu hủy đạt chuẩn kỹ thuật môi trường.

Luận văn vận dụng các khái niệm cốt lõi theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT và Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT, bao gồm việc phân loại 5 nhóm chất thải y tế chính:

  • Chất thải lây nhiễm (chất thải sắc nhọn loại A, không sắc nhọn loại B, nguy cơ lây nhiễm cao loại C, chất thải giải phẫu loại D).
  • Chất thải hóa học nguy hại (dược phẩm quá hạn, hóa chất xét nghiệm dính chất độc tế bào, kim loại nặng chứa thủy ngân và cadimi).
  • Chất thải phóng xạ phát sinh từ chẩn đoán hình ảnh và xạ trị.
  • Bình chứa khí áp suất dễ gây cháy nổ.
  • Chất thải rắn thông thường phát sinh từ sinh hoạt buồng bệnh và khối hành chính.

Mô hình nghiên cứu đồng thời tích hợp các tiêu chuẩn phát thải khí thải lò đốt theo QCVN 02:2012/BTNMT, đặc biệt chú trọng ngưỡng nhiệt độ buồng đốt thứ cấp trên 1050 độ C nhằm triệt tiêu hoàn toàn độc chất Dioxin và Furan.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng bao gồm dữ liệu thứ cấp từ 4 Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An phê duyệt, niên giám thống kê y tế giai đoạn 2011-2014 và dữ liệu sơ cấp thu thập qua điều tra thực địa từ tháng 11/2014 đến tháng 03/2015.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 04 bệnh viện công lập đại diện phân tầng:

  • Tuyến Trung ương: Bệnh viện Phong và Da liễu Quỳnh Lập (quy mô 150 giường bệnh).
  • Tuyến tỉnh: Bệnh viện Đa khoa khu vực Tây Nam (quy mô 300 giường bệnh).
  • Tuyến huyện: Bệnh viện Đa khoa huyện Đô Lương (quy mô 130 giường bệnh) và Bệnh viện Đa khoa huyện Anh Sơn (quy mô 90 giường bệnh).

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng có chủ đích (purposive stratified sampling). Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính đại diện cho các tuyến chuyên môn kỹ thuật, vị trí địa lý đặc thù (khu vực ven biển Hoàng Mai, trung du Đô Lương, miền núi Con Cuông, Anh Sơn) và các hình thức công nghệ xử lý đã tiếp nhận (lò đốt ChuwAstar công nghệ Nhật Bản công suất 20 - 30 kg/giờ, lò đốt VHI-08 công nghệ Việt Nam công suất 35 kg/giờ và hệ thống vi sóng). Phương pháp phân tích kết hợp thống kê mô tả, định lượng dòng chất thải (kg/giường bệnh/ngày) và đánh giá ma trận tuân thủ theo thang điểm 1 đến 4 dựa trên 5 nhóm tiêu chí quản lý kỹ thuật.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả khảo sát thực tế tại 04 bệnh viện nghiên cứu đã chỉ ra những phát hiện định lượng quan trọng:

  • Áp lực quá tải giường bệnh và gia tăng lượng chất thải: 100% bệnh viện khảo sát đều có số giường thực tế vượt công suất kế hoạch. Mức vượt cao nhất ghi nhận tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Tây Nam với 370 giường thực tế so với 300 giường kế hoạch (đạt 123,3%), phát sinh 359 kg chất thải/ngày (0,97 kg/giường/ngày). Bệnh viện Phong và Da liễu Quỳnh Lập đạt 155 giường thực tế trên 150 giường kế hoạch (103,3%), phát sinh 151 kg chất thải/ngày (0,98 kg/giường/ngày).
  • Tỷ trọng chất thải y tế nguy hại ở mức cao: Lượng chất thải nguy hại chiếm từ 18,8% (tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Tây Nam) đến 19,2% (tại Bệnh viện Phong và Da liễu Quỳnh Lập). Hệ số phát sinh chất thải nguy hại dao động từ 0,13 đến 0,18 kg/giường bệnh/ngày, tập trung nhiều nhất ở các khoa Khám bệnh, Hồi sức cấp cứu, Ngoại khoa và Xét nghiệm.
  • Sự đứt gãy trong khâu lưu giữ và tuân thủ định mức bao bì: Mặc dù 100% khoa phòng tại 04 bệnh viện đã trang bị thùng chứa phân màu vàng và xanh, tỷ lệ chứa rác đúng vạch quy định 3/4 thể tích chỉ đạt 71,4% tại Bệnh viện Quỳnh Lập và giảm mạnh xuống 42,8% tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Tây Nam do áp lực ca bệnh tăng cao.
  • Sự cố và suy giảm hiệu suất của hệ thống xử lý tại chỗ: 100% lò đốt khảo sát đều không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật vận hành tối ưu. Điển hình, lò đốt HoVal công suất 450 - 500 kg/ngày tại khu vực Vinh sau 10 năm hoạt động chỉ đạt nhiệt độ buồng đốt 500 - 600 độ C, liên tục phát sinh khói đen. Hệ thống xử lý bằng công nghệ vi sóng tại Bệnh viện Quỳnh Lập bị tê liệt hoàn toàn từ tháng 10/2013 do ảnh hưởng ngập lụt từ cơn bão số 10, buộc đơn vị phải chuyển sang lưu kho tạm thời và thuê dịch vụ ngoài xử lý với chi phí tốn kém.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu định lượng trong nghiên cứu được trực quan hóa thông qua hệ thống bảng thống kê phát sinh chất thải theo từng chuyên khoa và biểu đồ ma trận đánh giá tuân thủ quy chuẩn môi trường. Khi so sánh giữa các khoa lâm sàng, biểu đồ phân tích cho thấy sự chênh lệch rõ rệt: Khoa Hồi sức cấp cứu có lượng phát thải chất thải nguy hại cao nhất đạt 0,31 kg/người/ngày ở tuyến tỉnh và 0,18 kg/người/ngày ở tuyến huyện, cao gấp 6 đến 9 lần so với Khoa Nhi và Hệ Nội (chỉ phát sinh từ 0,02 đến 0,03 kg/người/ngày).

Nguyên nhân chính dẫn đến sự thiếu hụt hiệu quả trong quản lý bắt nguồn từ việc thiếu nhân sự chuyên môn được đào tạo bài bản về kỹ thuật môi trường. Tại Bệnh viện Phong và Da liễu Quỳnh Lập, trong 09 nhân sự thuộc Khoa Chống nhiễm khuẩn chỉ có 01 Trưởng khoa có trình độ đại học y tế công cộng, 06 nhân sự còn lại là hộ lý kiêm nhiệm việc thu gom rác. So với các nghiên cứu tương đồng tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ, các bệnh viện tại Nghệ An gặp trở ngại lớn về cự ly địa lý khi các trung tâm y tế miền núi cách xa khu xử lý tập trung trên 200 km, trong khi phương tiện vận chuyển chuyên dụng theo Thông tư 12/2011/TT-BTNMT chưa được đầu tư đồng bộ. Tro xỉ sau khi đốt vẫn bị chôn lấp thủ công trong khuôn viên bệnh viện, tạo nguy cơ thẩm thấu kim loại nặng vào nguồn nước ngầm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý và xử lý chất thải rắn y tế trên địa bàn, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  • Chuyển đổi công nghệ xử lý không đốt thân thiện môi trường: Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An và Sở Y tế cần ngừng cấp phép đầu tư mới các lò đốt công suất nhỏ dưới 50 kg/giờ. Thay thế dần 17 lò đốt cũ bằng công nghệ tiệt khuẩn nhiệt ướt (Autoclave) hoặc vi sóng tích hợp máy nghiền cắt cơ học, đặt mục tiêu loại bỏ 100% nguy cơ phát thải Dioxin/Furan trong giai đoạn 2016-2020.
  • Thiết lập mô hình xử lý chất thải y tế nguy hại theo 03 cụm liên huyện: Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì quy hoạch 03 cụm xử lý tập trung: Cụm trung tâm (Vinh – Cửa Lò – Nghi Lộc), Cụm Tây Bắc (đặt tại Nghĩa Đàn) và Cụm Tây Nam (đặt tại Con Cuông) với bán kính thu gom tối ưu dưới 30 km. Đầu tư đội xe chuyên dụng có thùng bảo ôn kín đạt chuẩn kỹ thuật để giảm 35% chi phí vận hành phân tán so với mô hình xử lý tại chỗ.
  • Chuẩn hóa hạ tầng thu gom và lưu giữ nội viện: Ban Giám đốc các bệnh viện công lập phải cải tạo 100% nhà lưu giữ rác y tế đảm bảo khoảng cách ly trên 10 mét so với nhà ăn và buồng bệnh; trang bị tủ bảo quản lạnh chuyên dụng để kéo dài thời gian lưu giữ an toàn lên đến 72 giờ; giám sát nghiêm ngặt quy định không để rác vượt quá 3/4 thể tích túi chứa tại 100% khoa phòng.
  • Kiện toàn tổ chức và cơ chế tài chính bảo vệ môi trường: Thành lập bộ phận chuyên trách về an toàn môi trường trực thuộc Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn tại các bệnh viện tuyến II trở lên, bố trí tối thiểu 01 kỹ sư môi trường chuyên trách. Các cơ sở khám chữa bệnh cần trích lập tối thiểu 2% đến 3% tổng chi thường xuyên hàng năm dành riêng cho công tác bảo trì hệ thống xử lý, mua sắm vật tư tiêu hao và quan trắc môi trường định kỳ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang giá trị thực tiễn sâu sắc và là nguồn tài liệu hữu ích cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Y tế, Sở Tài nguyên và Môi trường Nghệ An): Sử dụng cơ sở dữ liệu thực chứng và bộ chỉ số phát thải của 42 bệnh viện làm căn cứ xây dựng đề án quy hoạch mạng lưới xử lý chất thải rắn y tế toàn tỉnh tầm nhìn đến năm 2025.
  • Ban Giám đốc và cán bộ quản lý tại các bệnh viện công lập: Ứng dụng khung ma trận đánh giá tuân thủ để rà soát quy trình phân loại rác tại nguồn, tối ưu hóa cung đường vận chuyển nội viện và thiết lập kế hoạch phòng ngừa sự cố cho hệ thống xử lý rác.
  • Kỹ sư môi trường và các đơn vị tư vấn xử lý chất thải: Tham khảo các phân tích so sánh chi tiết về hiệu quả kinh tế - kỹ thuật giữa công nghệ thiêu đốt truyền thống và công nghệ tiệt khuẩn vi sóng/nhiệt ướt để lựa chọn thiết kế phù hợp cho địa bàn miền núi.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Y tế công cộng: Sử dụng công trình như một nghiên cứu điển hình về phương pháp khảo sát thực địa, thiết kế bảng hỏi và phương pháp tiếp cận quản lý chất thải nguy hại chuyên ngành y tế.

Câu hỏi thường gặp

Hệ số phát sinh chất thải rắn y tế tại các bệnh viện công lập Nghệ An là bao nhiêu? Nghiên cứu xác định hệ số phát sinh dao động từ 0,73 đến 0,98 kg/giường bệnh/ngày tại các bệnh viện được khảo sát chi tiết, và trung bình toàn tỉnh đạt 1,69 kg/giường bệnh/ngày. Lượng chất thải y tế nguy hại chiếm từ 0,11 đến 0,24 kg/giường bệnh/ngày (tương đương 14,1% đến 19,2% tổng lượng chất thải phát sinh).

Vì sao hoạt động của các lò đốt chất thải y tế cũ thường xuyên bị khiếu nại? Các lò đốt như HoVal hay VHI-08 sau 5 đến 10 năm vận hành đều xuống cấp nghiêm trọng, nhiệt độ buồng đốt chỉ đạt 500 - 600 độ C, không đáp ứng quy chuẩn QCVN 02:2012/BTNMT. Tình trạng đốt thiếu nhiệt làm phát tán khói đen, mùi khét và các chất cực độc như Dioxin, Furan ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe khu dân cư lân cận.

Khoa phòng nào trong bệnh viện phát sinh chất thải y tế nguy hại nhiều nhất? Số liệu thực tế tại Bệnh viện Tây Nam và Bệnh viện Quỳnh Lập khẳng định các khoa Hồi sức cấp cứu, Ngoại phẫu thuật, Phụ sản và Phòng Xét nghiệm phát sinh chất thải lây nhiễm cao nhất, đạt từ 0,18 đến 0,31 kg/người/ngày, chủ yếu là bơm kim tiêm, mô bệnh phẩm, bông băng dính dịch máu và hóa chất xét nghiệm.

Tại sao công nghệ vi sóng tại Bệnh viện Quỳnh Lập lại bị tạm ngừng hoạt động? Hệ thống xử lý chất thải bằng vi sóng tại Bệnh viện Phong và Da liễu Quỳnh Lập được đầu tư hiện đại nhưng đã ngừng hoạt động từ tháng 10/2013 do toàn bộ bo mạch thiết bị bị ngập nước trong cơn bão số 10. Nguyên nhân sâu xa là do thiếu kinh phí dự phòng, thiếu kỹ sư bảo trì tại chỗ và vị trí lắp đặt chưa tính toán hết rủi ro thiên tai.

Mô hình xử lý chất thải y tế theo cụm mang lại lợi ích gì cho địa phương? Mô hình xử lý theo cụm giúp giảm thiểu việc đầu tư dàn trải 17 lò đốt nhỏ lẻ kém chất lượng, tiết kiệm khoảng 35% tổng mức đầu tư ban đầu, đồng thời tập trung được nguồn vốn để vận hành các công nghệ không đốt hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan quản lý kiểm soát khí thải tập trung.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng toàn diện hiện trạng phát sinh chất thải tại 42 cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An với tổng lượng phát thải 12.000 kg/ngày, trong đó có 1.700 kg chất thải nguy hại.
  • Khảo sát chuyên sâu tại 04 bệnh viện đại diện (Quỳnh Lập, Tây Nam, Đô Lương, Anh Sơn) đã làm rõ thực trạng quá tải giường bệnh lên tới 123,3% và chỉ ra tỷ lệ chất thải nguy hại chiếm từ 18,8% đến 19,2%.
  • Nghiên cứu chỉ ra những bất cập kỹ thuật nghiêm trọng của 17 lò đốt hiện có khi nhiệt độ chỉ đạt 500 - 600 độ C, gây ô nhiễm thứ cấp và xung đột môi trường với cộng đồng dân cư xung quanh.
  • Xác định nguyên nhân gián đoạn của công nghệ vi sóng và sự thiếu hụt nhân sự có chuyên môn môi trường chính quy tại các khoa Chống nhiễm khuẩn bệnh viện.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, trọng tâm là quy hoạch 03 cụm xử lý liên huyện và ứng dụng công nghệ tiệt khuẩn không đốt giai đoạn 2016-2020.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh thực nghiệm khoa học, chuẩn xác giúp các cơ quan quản lý nhà nước tại Nghệ An chuyển đổi phương thức quản lý chất thải y tế từ phân tán, lạc hậu sang tập trung, hiện đại. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền địa phương cần khẩn trương phân bổ ngân sách trong giai đoạn 2016-2018 để nâng cấp hạ tầng lưu giữ lạnh và phương tiện chuyên dụng. Các cấp quản lý y tế và môi trường cần nhanh chóng triển khai áp dụng khung tiêu chuẩn và mô hình cụm đã đề xuất nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng và hướng tới phát triển y tế xanh bền vững.