CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Theo công ước về ĐDSH thì ĐDSH được định nghĩa là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trên cạn, ở biển, các hệ sinh thái (HST) dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng là thành viên. ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (Đa dạng di truyền hay đa dạng gen), giữa các loài (Đa dạng loài) và các hệ sinh thái (Đa dạng HST). Thuật ngữ ĐDSH được dùng lần đầu tiên vào năm 1988 (Wilson, 1988) và sau khi Công ước ĐDSH được ký kết (1992) đã được dùng phổ biến trên các diễn đàn Quốc tế [31].1 Trên thế giới. Bảo tồn và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên sinh học đã trở thành một chiến lược chung trên toàn cầu, mà bao trùm nhất là Công ước ĐDSH đã được ký kết tại Hội nghị Thượng đỉnh ở Rio de Janeiro năm 1992.
Tiếp đó, nhiều tổ chức Quốc tế đã tập trung chủ yếu vào công tác bảo tồn ĐDSH như: Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP), Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), Tổ chức bảo tồn Động Thực vật Quốc tế (FFI), Viện Tài nguyên Di truyền Quốc tế (IPGRI). Nhiều hội nghị, hội thảo được tổ chức và nhiều sách về ĐDSH đã được xuất bản [18,21] nhằm cung cấp những kiến thức rộng lớn hơn về ĐDSH. Một số công ước Quốc tế đã được nhiều Quốc gia tham gia thực hiện như công ước ĐDSH, công ước CITES, công ước về các loài di cư. Với nhịp điệu phát triển kinh tế xã hội ngày một tăng, cùng với việc sử dụng không hợp lý và sự quản lý yếu kém tài nguyên sinh học, ĐDSH đang bị suy thoái ngày càng tăng [17,18].
Sự mất mát về ĐDSH hiện nay là đáng lo ngại, mà nguyên nhân chủ yếu là do con người khai thác thiên nhiên không hợp lý đã làm cho nhiều loài bị tiêu diệt. Để thực hiện bảo tồn ĐDSH theo hướng bền vững, những năm gần đây ở mỗi nước, mỗi khu vực đều tìm tòi, thử nghiệm và lựa chọn cho mình một chiến lược và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 4 - chính sách quản lý tài nguyên thích hợp. Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế- chính trị- xã hội, điều kiện tự nhiên và tập quán canh tác của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia mà hình thành nên một hệ thống quản lý sử dụng tài nguyên khác nhau. Theo lịch sử thời gian quá trình triển khai bảo tồn ĐDSH đã có những bước thay đổi về phương pháp nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận [2].
Trong giai đoạn đầu của tiến trình bảo tồn ĐDSH các hoạt động bảo tồn thường được tách lập với các hoạt động kinh tế - xã hội khác trong vùng. Các khu bảo tồn được xem như những “hòn đảo” tách biệt với thế giới xung quanh [33]. Các tác động của con người lên hệ sinh thái trong khu bảo tồn hoàn toàn bị nghiêm cấm. Tuy nhiên, mô hình bảo tồn này sớm bộc lộ những hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh của các nước đang phát triển, nơi có một số lượng dân cư lớn đang sinh sống trong các khu vực bảo tồn.
Ở rất nhiều nơi, xung đột giữa người dân địa phương và Ban quản lý các khu bảo tồn ngày càng trở nên trầm trọng. Những người dân được di dời ra ngoài khu bảo tồn vẫn tiếp tục đi vào rừng, khai thác các sản phẩm của rừng, thậm chí ngày càng trầm trọng và thiếu ý thức hơn. Carruthes (1997) đã kết luận mô hình bảo tồn này rằng "việc bảo tồn theo mô hình Yellowstone1 là nghiêm cấm hoàn toàn tác động của con người vào thiên nhiên; được ngăn chặn bởi những hàng rào, hoặc di dời cư dân địa phương ra khỏi khu bảo tồn sẽ không còn phù hợp trong thế kỷ 21. Nếu chúng ta vẫn tiếp tục hình thái bảo tồn này thì hậu quả sẽ ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn" [32] Ngày nay, chiến lược tiếp cận trong công tác bảo tồn đã có nhiều thay đổi.
Các hoạt động của con người trong các khu bảo tồn ngày càng được chấp nhận. Chiến lược tiếp cận bảo tồn mới của IUCN trong thế kỷ 21 được khẳng định rằng: Các khu bảo tồn cần phải tăng số lượng các bên tham gia và người dân trong vùng cần được xem như những "đối tác" hơn là những "mối nguy hiểm" cho công tác bảo tồn [38]. Nói một cách tổng quát hơn quá trình quản lý tài nguyên đất và rừng cần song song với việc bảo đảm sinh kế của cư dân địa phương, tạo ra một chiến lược quản lý tài nguyên vì con người và do con người [21]. 1 Yellowstone là khu bảo tồn đầu tiên trên thế giới được thành lập tại Mỹ, áp dụng phương pháp "hòn đảo" trong bảo tồn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 5 - Một số nước trên thế giới như "Brazil, Trung Quốc, và các nước Trung Đông đã thực hiện nhiều chương trình, dự án nhằm hướng tới Bảo tồn ĐDSH. Kết quả thu được từ các chương trình này cho thấy rằng muốn tăng cường hiệu quả quản lý tài nguyên ĐDSH trong KBT thì chiến lược “Đồng quản lý” [34] phải được vận dụng một cách triệt để nhằm đạt được cả hai mục tiêu là bảo tồn ĐDSH và phát triển sinh kế nông thôn. Đã có rất nhiều học giả trên thế giới nghiên cứu về những thuộc tính của "đồng quản lý" và hiệu quả của nó trong công tác bảo tồn. Theo Grazia và cộng sự [34] thì "đồng quản lý" là quá trình hợp tác đối tác bởi hai hay nhiều bên tham gia trong quá trình bảo tồn.
Các bên tham gia có vai trò ngang nhau trong thương thảo, thống nhất, cam kết và đi đến thực thi một chương trình hành động mà trong đó các bên cùng nhau chia sẻ quyền lực, chức năng, lợi ích và tính trách nhiệm trong quá trình thực thi các hoạt động bảo tồn. West và Brechin [43] tập trung nhấn mạnh vào quá trình chia sẻ tính trách nhiệm và quyền lực giữa Nhà nước và người dân địa phương trong phương pháp "đồng quản lý" ở các khu bảo tồn và cho rằng người dân phải có quyền tham gia vào tất cả các hoạt động một cách bình đẳng với các cơ quan chức năng của nhà nước trong việc hoạch định và thực thi các chính sách bảo tồn, có như thế công tác bảo tồn mới mang lại hiệu quả. Chương trình hỗ trợ ĐDSH (The Biodiversity Support Program, 2000) đã thực hiện nhiều dự án với nhiều mục tiêu cho bảo tồn ĐDSH, ở các nước Châu Phi và Châu Mỹ Latinh [31]. Những nghiên cứu bước đầu đã chỉ ra một số điều kiện thành công của bảo tồn bao gồm: Một là, mục tiêu bảo tồn phải được thảo luận, đàm phán và nhất trí bởi tất cả các chủ thể hoặc đối tác có liên quan.
Hai là, các hoạt động bảo tồn phải xác định và hỗ trợ các lợi ích và nhu cầu của người dân địa phương. Ba là, nhận thức, kiến thức về bảo tồn ĐDSH sẽ dẫn đến động lực, nhưng động lực không thì chưa đủ. Để biến ý tưởng thành hành động thì con người phải có đầy đủ kỹ năng và năng lực cần thiết [31]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Ở Việt Nam Ở Việt Nam các hoạt động bảo tồn ĐDSH đã được bắt đầu nhìn nhận từ những năm 1960s.
Tại thời điểm đó các chính sách và giải pháp bảo tồn ở Việt Nam được thừa kế bởi phương pháp bảo tồn của Đông Đức và ảnh hưởng trực tiếp của cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh [37]. Năm 1960, một đoàn cán bộ khoa học Việt Nam đã sang Đức để tham quan, nghiên cứu khoa học. Sau chuyến đi ông Nguyễn Tạo - Nguyên cục trưởng cục Lâm nghiệp đã xuất bản bài viết "Bảo tồn thiên nhiên và mối quan hệ với quản lý bảo vệ rừng", đồng thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "rừng là vàng, nếu biết bảo vệ thì rừng rất quý" [37]. Lời nói của Hồ Chủ Tịch cùng với những kinh nghiệm học hỏi được từ nước Đức đã đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển khung thể chế về bảo tồn ĐDSH ở nước ta [10].
Khu bảo tồn thiên nhiên đầu tiên ở Việt Nam là "rừng cấm Cúc Phương", được thành lập theo quyết định số 72/TTg của Thủ tướng chính phủ vào năm 1962 [3]. Từ đó cho đến nay số lượng và diện tích các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam không ngừng tăng lên; tính đến cuối năm 2005 Việt Nam có tới 126 khu rừng đặc dụng, trong đó có 29 Vườn Quốc Gia (VQG), 59 khu bảo tồn thiên nhiên và 38 khu bảo vệ cảnh quan [6]. Bên cạnh việc phát triển các khu rừng đặc dụng, Nhà nước Việt Nam cũng đã tham gia ký kết nhiều công ước Quốc tế, ban hành nhiều văn bản pháp luật và chính sách có liên quan đến bảo vệ rừng, bảo tồn ĐDSH. Năm 1985, chiến lược Bảo tồn Quốc gia của Việt Nam được ban hành.
Đến năm 1993, Việt nam đã ký công ước Quốc tế về ĐDSH và tiến hành xây dựng Kế hoạch hành động ĐDSH vào năm 1995. Đây là văn bản có tính pháp lý khung và là kim chỉ nam cho hành động của Việt Nam trong việc bảo tồn ĐDSH ở tất cả các cấp từ Trung ương đến địa phương, các ngành và các đoàn thể. Năm 1991, Quốc hội ban hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và được sửa đổi, bổ sung vào năm 2004. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 7 - Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều tồn tại và bất cập mà nguyên nhân chủ yếu bao gồm: (1) nhận thức của người dân về bảo tồn ĐDSH còn thấp, (2) năng lực, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác bảo tồn yếu, (3) sự chồng chéo, giữa nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo và công tác bảo tồn.
Một điểm vẫn còn gây tranh cãi (đặc biệt trong giới những người làm công tác bảo tồn) trong công tác bảo tồn ở Việt Nam đó là có nên hay không lôi kéo, thu hút người dân vào tham gia công tác bảo tồn. Rất nhiều ý kiến tán đồng với việc này và đã đề xuất các giải pháp như "đồng quản lý", "quản lý có sự tham gia", "quản lý dựa vào cộng đồng". Tuy nhiên, cũng không ít ý kiến cho rằng con người (mà cụ thể là người dân địa phương) là nhân tố chính dẫn đến sự suy thoái ĐDSH ở các vùng rừng vì thế không nên để cộng đồng tham gia vào bảo tồn và tốt hơn hết là không để người dân sống trong các khu bảo tồn [20].