Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên được thành lập năm 2000 tại huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, sở hữu tổng diện tích tự nhiên 26.303,6 ha với độ che phủ rừng tự nhiên đạt 87,8%. Đây là nơi lưu giữ giá trị đa dạng sinh học đặc sắc của vùng sinh thái Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, bao gồm 752 loài thực vật bậc cao có mạch với 38 loài ghi trong Sách đỏ, điển hình là 3.821 ha rừng nguyên sinh Pơ Mu và Sa Mu cổ thụ. Hệ động vật ghi nhận 369 loài, trong đó 51 loài thuộc Sách đỏ Việt Nam và thế giới như Vượn đen má trắng và Voọc xám.

Tuy nhiên, tài nguyên sinh thái tại đây đang chịu áp lực lớn từ 30.603 hộ gia đình sinh sống tại 50 thôn bản vùng đệm thuộc 5 xã tiếp giáp, nơi tỷ lệ đói nghèo lên tới 67% và thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 126.460 đồng/tháng theo số liệu thống kê địa phương năm 2012. Tình trạng khai thác gỗ trái phép ghi nhận 49 vụ với 94 m³ gỗ bị thu giữ năm 2011, giảm xuống 40 vụ với 88,2 m³ năm 2012. Bên cạnh đó, hơn 200 khẩu súng săn tự chế vẫn tồn tại trong cộng đồng, đe dọa trực tiếp đến quần thể động vật hoang dã.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Đình Thái, thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS. Vương Văn Quỳnh tại Trường Đại học Lâm nghiệp, giải quyết mắt xích cốt lõi: Đánh giá thực trạng nhận thức bảo tồn của cộng đồng, phân tích những rào cản và cơ hội để thiết lập hệ thống chương trình giáo dục bảo tồn có căn cứ khoa học. Nghiên cứu triển khai thực địa từ tháng 10/2012 đến tháng 02/2013 tại 5 xã vùng đệm gồm Bát Mọt, Yên Nhân, Lương Sơn, Xuân Cẩm và Vạn Xuân. Kết quả luận văn hướng đến mục tiêu nâng tỷ lệ người dân có nhận thức bảo tồn đạt chuẩn từ dưới 40% lên trên 70%, đồng thời giảm thiểu tối đa các vụ vi phạm lâm luật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Giáo dục Môi trường khởi xướng từ Hội nghị Toàn cầu Stockholm năm 1972 và định nghĩa của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế về xây dựng kỹ năng, thái độ định hình quy tắc ứng xử vì chất lượng môi trường. Song song với đó là lý thuyết Giáo dục Bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng do Matarasso và Brewer phát triển, xác định cộng đồng địa phương là chủ thể trung tâm của tiến trình bảo tồn.

Khung lý thuyết của luận văn tích hợp 4 khái niệm then chốt: Giáo dục bảo tồn, Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng, Đa dạng sinh học vùng đệm và Đánh giá nông thôn có sự tham gia. Mô hình nghiên cứu kiểm định mối quan hệ tương quan giữa nhận thức, thái độ bảo tồn với 6 biến nhân khẩu học: vị trí địa lý, giới tính, thành phần dân tộc, độ tuổi, trình độ học vấn và mức thu nhập hàng năm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu định lượng gồm 203 phiếu điều tra cấu trúc và 60 cuộc phỏng vấn bán định hướng theo phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia tại 5 thôn trọng điểm: thôn Vịn, thôn Lửa, thôn Minh Ngọc, thôn Tiến Sơn và thôn Hang Cáu. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo đại diện đầy đủ các nhóm đối tượng: nông dân, học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông, cán bộ viên chức các cơ quan lân cận như Trạm Khí tượng Thủy văn Cửa Đạt và Ban quản lý Thủy điện Cửa Đạt.

Bộ câu hỏi khảo sát gồm 36 câu hỏi đóng và 8 câu hỏi mở, thiết kế theo thang điểm chuẩn hóa 22 điểm, trong đó mức điểm từ 11 trở lên được quy ước là nhận thức tốt. Dữ liệu được xử lý trên phần mềm SPSS 13.0 và Excel. Do dữ liệu khảo sát nhận thức không tuân theo phân phối chuẩn, tác giả lựa chọn các phương pháp kiểm định phi tham số gồm kiểm định Kruskal-Wallis cho các biến nhiều nhóm (địa bàn, học vấn, nghề nghiệp, độ tuổi) và kiểm định Mann-Whitney U cho các biến hai nhóm (giới tính, dân tộc, thu nhập) ở mức ý nghĩa thống kê 0,05. Nghiên cứu cũng kết hợp phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và ma trận xếp hạng lựa chọn hành vi thay thế trong 2 đợt khảo sát thực địa từ ngày 01/10/2012 đến ngày 01/02/2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ 203 mẫu khảo sát đã làm sáng tỏ các phát hiện quan trọng về nhận thức bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên:

  • Khoảng cách nhận thức theo dân tộc và trình độ học vấn: Tỷ lệ người dân tộc Kinh có nhận thức tốt đạt 85,48% với giá trị hạng trung bình 122,25, vượt trội so với người dân tộc Thái chỉ đạt 27,66% với hạng trung bình 93,30 (kiểm định Mann-Whitney U cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức p < 0,05). Về học vấn, nhóm có trình độ từ cấp III trở lên đạt 77,19% nhận thức tốt (hạng trung bình 158,40), cao hơn rõ rệt so với nhóm học vấn cấp II đạt 25,55% (hạng trung bình 82,29) và nhóm mù chữ hoặc tiểu học chỉ đạt 22,22% (hạng trung bình 44,83; Kruskal-Wallis p < 0,05).
  • Sự phân hóa theo nghề nghiệp và thu nhập: Cán bộ công nhân viên chức có tỷ lệ nhận thức tốt cao nhất đạt 85,19% (hạng trung bình 163,87), nhóm học sinh đạt 77,19% (hạng trung bình 95,80), trong khi nông dân chỉ đạt 25,55% (hạng trung bình 86,04; Kruskal-Wallis p < 0,05). Nhóm hộ có thu nhập trên 10 triệu đồng/năm có điểm nhận thức trung bình đạt 43,18, cao hơn nhóm thu nhập dưới 10 triệu đồng/năm chỉ đạt 25,83 (Mann-Whitney U p < 0,05).
  • Bất bình đẳng giới trong tiếp cận thông tin bảo tồn: Nam giới có tỷ lệ nhận thức tốt đạt 48,18% (hạng trung bình 115,78), cao hơn nữ giới đạt 41,94% (hạng trung bình 85,69; Mann-Whitney U p < 0,05).
  • Tính đồng nhất theo vị trí địa lý: Điểm số nhận thức giữa 5 xã dao động từ 103 điểm tại xã Bát Mọt (hạng trung bình 23,42; 33,33% đạt chuẩn) đến 140 điểm tại xã Vạn Xuân (hạng trung bình 34,83; 41,67% đạt chuẩn). Kết quả kiểm định Kruskal-Wallis cho giá trị p = 0,529 > 0,05, khẳng định không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nhận thức giữa các khu vực cư trú.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch nhận thức về giới và dân tộc bắt nguồn từ phân công lao động xã hội và điều kiện hạ tầng. Phụ nữ dân tộc Thái thường xuyên làm nương rẫy xa, rào cản ngôn ngữ và ít tham gia các cuộc họp thôn bản, trong khi nam giới thường đại diện hộ gia đình tiếp xúc với cán bộ kiểm lâm. Nông dân vùng sâu thiếu điện lưới và sóng viễn thông, dẫn đến hạn chế tiếp cận thông tin so với cán bộ nhà nước.

Khi so sánh với các nghiên cứu của Engels và Jacobson tại Brazil hay công trình của tác giả Nguyễn Thị Nhài tại Khu bảo tồn Khau Ca, kết quả này hoàn toàn tương đồng về tính phụ thuộc của nhận thức vào cơ hội tiếp cận truyền thông. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu qua biểu đồ cột thể hiện giá trị hạng trung bình nhận thức giữa các nhóm học vấn, kết hợp biểu đồ tròn đối sánh tỷ lệ nhận thức đạt chuẩn giữa nông dân và cán bộ.

Đặc biệt, bài học thực tiễn từ chương trình vận động giao nộp hơn 500 khẩu súng săn giai đoạn 2001-2011 để đổi lấy hợp đồng khoán bảo vệ 10-15 ha rừng với tiền công trên 5 triệu đồng/chu kỳ 5 năm cho thấy: Giáo dục bảo tồn chỉ đạt hiệu quả bền vững khi gắn liền với lợi ích sinh kế thiết thực của người dân.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng và phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Chuẩn hóa chương trình giáo dục bảo tồn học đường: Ban quản lý Khu bảo tồn phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thường Xuân đưa nội dung bảo tồn đa dạng sinh học vào chương trình ngoại khóa tại 100% trường trung học cơ sở vùng đệm và Trường Trung học phổ thông Cầm Bá Thước. Duy trì 5 Câu lạc bộ Xanh với chỉ tiêu 90% học sinh tham gia đạt nhận thức tốt trong giai đoạn 2013-2015.
  2. Thiết lập kênh truyền thông chuyên biệt cho phụ nữ và đồng bào dân tộc Thái: Hội Liên hiệp Phụ nữ xã phối hợp với Hạt Kiểm lâm tổ chức các buổi sinh hoạt truyền thông song ngữ Thái - Việt tại 50 thôn bản vào buổi tối. Ứng dụng tờ rơi tranh ảnh trực quan về các loài quý hiếm như Bách xanh, Vượn đen má trắng, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ phụ nữ có nhận thức tốt từ 41,94% lên trên 65% trước năm 2015.
  3. Liên kết giáo dục bảo tồn với chính sách giao khoán rừng và thu hồi súng săn: Ủy ban nhân dân huyện Thường Xuân cùng Chi cục Kiểm lâm mở rộng cơ chế giao khoán 10-15 ha rừng đặc dụng cho các hộ tự nguyện nộp hơn 200 súng săn còn lại. Kết hợp Ngân hàng Chính sách Xã hội cung cấp vốn vay ưu đãi phát triển chăn nuôi có kiểm soát, triệt tiêu động cơ săn bắn trái phép trước năm 2016.
  4. Phân định ranh giới và xây dựng trung tâm diễn giải môi trường: Ban quản lý Khu bảo tồn hoàn thành cắm mốc ranh giới rõ ràng cho 26.303,6 ha đất rừng, phối hợp với Ban quản lý Thủy điện Cửa Đạt lắp đặt hệ thống pano tuyên truyền tại các bến thuyền và trục đường liên xã, phục vụ công tác tuyên truyền cho hơn 30.000 cư dân địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Cung cấp khung phương pháp luận và mô hình giáo dục môi trường thực tiễn để áp dụng cho các khu rừng đặc dụng có điều kiện tương đồng như Pù Hoạt, Pù Mát hoặc Phong Điền nhằm xây dựng kế hoạch quản lý có sự tham gia của người dân.
  • Cán bộ quản lý lâm nghiệp và lực lượng kiểm lâm địa bàn: Cung cấp cơ sở khoa học để thiết kế các đợt tuyên truyền lâm luật, vận dụng kinh nghiệm đổi súng săn lấy hợp đồng khoán bảo vệ 10-15 ha rừng nhằm giải quyết triệt để các xung đột tài nguyên rừng.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lâm nghiệp, Môi trường: Tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu xã hội học lâm nghiệp, kỹ thuật phân tích thống kê phi tham số trên phần mềm SPSS và cách thức thiết kế bảng hỏi đánh giá nhận thức cộng đồng.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ quốc tế: Cung cấp dữ liệu thực địa tin cậy về 50 thôn bản vùng đệm Khu bảo tồn Xuân Liên, hỗ trợ thiết kế các dự án phát triển sinh kế có nhạy cảm giới và lồng ghép bảo tồn đa dạng sinh học hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nghiên cứu lại chọn phương pháp kiểm định phi tham số Kruskal-Wallis và Mann-Whitney U?
Dữ liệu khảo sát từ 203 phiếu điều tra nhận thức là biến định lượng thứ bậc và không tuân theo quy luật phân phối chuẩn. Việc sử dụng kiểm định Kruskal-Wallis cho các biến từ 3 nhóm trở lên và Mann-Whitney U cho các biến 2 nhóm ở mức ý nghĩa 0,05 giúp đảm bảo tính chính xác tuyệt đối về mặt thống kê toán học.

Yếu tố nào chi phối mạnh nhất đến nhận thức bảo tồn của người dân vùng đệm Xuân Liên?
Trình độ học vấn và thành phần dân tộc là hai yếu tố tác động lớn nhất. Nhóm có học vấn từ cấp III trở lên đạt 77,19% nhận thức tốt so với 22,22% ở nhóm tiểu học. Đồng thời, tỷ lệ nhận thức tốt ở người Kinh đạt 85,48%, vượt trội so với 27,66% ở người Thái do khoảng cách tiếp cận truyền thông.

Mô hình giao nộp súng săn đổi hợp đồng nhận khoán rừng mang lại hiệu quả thực tế ra sao?
Trong giai đoạn 2001-2011, chính sách này đã vận động người dân nộp trên 500 khẩu súng săn các loại. Mỗi hộ giao nộp được nhận khoán bảo vệ 10-15 ha rừng với thu nhập trên 5 triệu đồng/chu kỳ 5 năm, tạo động lực kinh tế trực tiếp giúp 67% hộ nghèo từ bỏ hoạt động săn bắt.

Vì sao chương trình giáo dục bảo tồn cần thiết kế giải pháp ưu tiên cho phụ nữ dân tộc thiểu số?
Khảo sát chỉ ra nhận thức của nữ giới đạt chuẩn chỉ chiếm 41,94%, thấp hơn nam giới (48,18%). Phụ nữ là đối tượng chính trực tiếp thu hái củi và lâm sản phi gỗ, nhưng lại ít dự họp thôn bản. Do đó, cần có các buổi sinh hoạt chuyên đề buổi tối bằng tiếng Thái để nâng cao nhận thức.

Làm thế nào để duy trì tính bền vững của các chương trình giáo dục bảo tồn học đường?
Kinh nghiệm từ 43 câu lạc bộ bảo tồn tại Vườn quốc gia Cúc Phương và 5 Câu lạc bộ Xanh tại Xuân Liên cho thấy cần thể chế hóa nội dung bảo tồn vào chương trình ngoại khóa chính thức của các trường phổ thông, kết hợp nguồn kinh phí ổn định từ Quỹ Bảo tồn Rừng đặc dụng Việt Nam.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn toàn diện về mối quan hệ giữa đặc điểm nhân khẩu học cộng đồng với công tác bảo tồn tại 26.303,6 ha diện tích tự nhiên của Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên.
  • Kết quả kiểm định thống kê trên 203 mẫu khẳng định nhận thức bảo tồn có sự phân hóa rõ rệt theo dân tộc, học vấn, nghề nghiệp, giới tính và thu nhập, nhưng không có sự khác biệt theo địa bàn cư trú.
  • Chứng minh thành công của mô hình tích hợp truyền thông bảo tồn với sinh kế giao khoán 10-15 ha rừng, tạo tiền đề thu hồi triệt để hơn 200 khẩu súng săn còn tồn đọng.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp giáo dục bảo tồn có tính khả thi cao, phân định rõ lộ trình, chỉ tiêu và chủ thể thực hiện cho từng nhóm đối tượng cụ thể.
  • Đóng góp bộ dữ liệu thực địa giá trị cho chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng và cung cấp tài liệu tham khảo thiết thực cho hệ thống các khu rừng đặc dụng trên toàn quốc.

Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan chức năng cần sớm thể chế hóa các đề xuất của luận văn vào quy hoạch bảo tồn hàng năm của tỉnh Thanh Hóa. Quý độc giả, các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn luận văn tại thư viện Trường Đại học Lâm nghiệp để ứng dụng vào công tác thực tiễn và phát triển các công trình khoa học tiếp theo.