Tổng quan nghiên cứu

Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên thuộc hệ thống rừng đặc dụng tỉnh Thanh Hóa, sở hữu tổng diện tích tự nhiên 23.815,5 ha, trong đó có hơn 5.500 ha rừng giàu và rừng trung bình ít bị tác động cùng 2.438 ha diện tích đất ngập nước thuộc vùng lòng hồ thủy điện Cửa Đạt. Vị trí địa lý của khu bảo tồn nằm ở điểm giao thoa sinh thái quan trọng giữa vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, tiếp giáp với Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt (Nghệ An) và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Nậm Xam (Lào). Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây như khảo sát của Đỗ Tước năm 1999 chỉ ghi nhận 135 loài và báo cáo của Ban quản lý năm 2013 ghi nhận 192 loài mới chỉ dừng lại ở việc thống kê sơ bộ, chưa phân tích cấu trúc phân bố sinh thái theo đai cao và sinh cảnh, cũng như chưa định lượng các mối đe dọa tác động lên khu hệ chim.

Nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu xác định toàn diện thành phần loài, tính đa dạng phân loại học, quy luật phân bố của các loài chim theo 4 đai cao và 6 dạng sinh cảnh đặc trưng, đồng thời lượng hóa 6 mối đe dọa chính nhằm đề xuất hệ thống giải pháp quản lý, bảo tồn bền vững. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trọn vẹn trên toàn bộ 23.815,5 ha diện tích khu bảo tồn và vùng đệm thuộc địa bàn 5 xã gồm Bát Mọt, Yên Nhân, Lương Sơn, Xuân Cẩm, Vạn Xuân thuộc huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa trong khung thời gian từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc nâng tổng số loài chim ghi nhận tại Xuân Liên lên 232 loài, chiếm tỷ lệ 26,1% tổng số loài chim toàn quốc. Kết quả nghiên cứu xác lập cơ sở dữ liệu quan trọng cho việc bảo tồn 10 loài chim quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, cung cấp luận cứ thực tiễn cho công tác quản lý tài nguyên rừng đặc dụng tại khu vực Bắc Trung Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết phân bố sinh thái quần xã động vật theo đai cao và lý thuyết phân chia ổ sinh thái trong thảm thực vật nhiệt đới. Các khái niệm học thuật cốt lõi được vận dụng bao gồm: khu hệ chim, tính đa dạng phân loại học, sinh cảnh rừng đặc dụng, đai cao sinh thái và chỉ số đánh giá mối đe dọa sinh học. Hệ thống phân loại học của khu hệ chim được đối chiếu và chuẩn hóa theo Danh lục chim thế giới của Clements năm 2007 kết hợp với các công trình phân loại chim Việt Nam của Võ Quý và Nguyễn Cử. Tình trạng bảo tồn của các loài được tham chiếu trực tiếp từ Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Danh lục Đỏ thế giới của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) năm 2016.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực địa được thu thập đồng bộ qua ba phương pháp điều tra chuẩn hóa trong sinh học bảo tồn:

  • Phương pháp điều tra theo tuyến: Thiết lập 12 tuyến khảo sát thực địa cắt ngang qua các kiểu sinh cảnh và địa hình chia cắt phức tạp, với tổng chiều dài toàn bộ các tuyến đạt 77,15 km (chiều dài mỗi tuyến dao động từ 2,0 km đến 22,0 km). Khảo sát được thực hiện liên tục từ 5 giờ 30 phút đến 17 giờ 30 phút hàng ngày, tốc độ di chuyển duy trì từ 1,5 km/h đến 2,5 km/h. Việc quan sát và định danh loài được thực hiện bằng mắt thường, ống nhòm chuyên dụng, máy ảnh kỹ thuật số và ghi nhận tiếng hót đặc trưng.
  • Phương pháp sử dụng lưới mờ: Bố trí 2 tay lưới mờ kích thước dài 9 m, cao 3 m với kích thước mắt lưới 1,5 x 1,5 cm tại 2 khoảng độ cao khác nhau gần lán nghiên cứu. Lưới được mở vào sáng sớm và kiểm tra định kỳ 30 - 40 phút một lần nhằm ghi nhận các loài chim hoạt động ở tầng cây bụi thấp khó quan sát.
  • Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: Thực hiện phỏng vấn sâu 50 cá nhân am hiểu địa bàn, bao gồm cán bộ kiểm lâm tại 5 trạm kiểm lâm (Hón Can, Bản Vịn, Bản Lửa, Sông Khao, Hón Mong), lực lượng bảo vệ rừng thôn bản và người dân địa phương tại các xã Bát Mọt, Yên Nhân, Vạn Xuân thông qua bộ ảnh nhận dạng và kiểm tra các di vật mỏ, lông chim còn lưu giữ.

Phương pháp đánh giá mối đe dọa áp dụng mô hình ma trận rủi ro của Margoluis và Salafsky năm 2001 dựa trên 3 tiêu chí: diện tích vùng bị ảnh hưởng, cường độ tác động và tính cấp thiết theo thời gian. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm loại bỏ tính cảm quan, lượng hóa thứ bậc ưu tiên can thiệp bảo tồn. Số liệu định lượng được phân tích trên phần mềm bảng tính và bản đồ chuyên đề được xử lý bằng MapInfo Pro 15. Tiến độ thực hiện chia thành 3 giai đoạn: xây dựng đề cương vào tháng 9 năm 2016, điều tra thực địa từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 2 năm 2017, và hoàn thiện xử lý dữ liệu trong tháng 3 và tháng 4 năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, đợt khảo sát thực địa đã ghi nhận trực tiếp 197 loài chim thuộc 55 họ và 17 bộ. Khi tổng hợp cùng các nghiên cứu trước đó, danh lục chim tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên đạt 232 loài thuộc 55 họ và 17 bộ. Nghiên cứu đã bổ sung mới 40 loài, 14 họ và 2 bộ so với công bố năm 2013 của Ban quản lý khu bảo tồn. So với 887 loài chim hiện biết trên toàn lãnh thổ Việt Nam, số loài tại Xuân Liên chiếm tỷ lệ ấn tượng 26,1%.

Thứ hai, cấu trúc phân loại học thể hiện sự thống trị vượt trội của bộ Sẻ (Passeriformes) với 148 loài, chiếm 63,8% tổng số loài của khu hệ. Tiếp theo là bộ Gõ kiến với 14 loài (chiếm 6,0%), bộ Ưng với 12 loài (chiếm 5,2%), bộ Sả và bộ Cu cu cùng có 10 loài (chiếm 4,3%), bộ Bồ câu và bộ Hạc cùng đạt 7 loài (chiếm 3,0%), các bộ còn lại chiếm từ 0,4% đến 2,6%.

Thứ ba, nghiên cứu xác định được 10 loài chim quý hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen cao (chiếm 4,31% khu hệ). Trong đó, có 9 loài nằm trong danh mục Nghị định 32/2006/NĐ-CP gồm 2 loài nhóm IB nghiêm cấm khai thác thương mại (Gà lôi trắng, Gà tiền mặt vàng) và 7 loài nhóm IIB (Hồng hoàng, Niệc nâu, Vẹt ngực đỏ, Cú lợn lưng xám, Diều hoa Miến Điện, Chích chòe lửa, Yểng); 5 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 (3 loài bậc Sẽ nguy cấp VU, 2 loài bậc Ít nguy cấp LR); và 2 loài thuộc Danh lục Đỏ IUCN năm 2016 ở cấp Sắp bị đe dọa NT gồm Hồng hoàng và Khướu mỏ dài.

Thứ tư, sự phân hóa sinh cảnh và đai cao diễn ra rất rõ nét. Sinh cảnh rừng thứ sinh và rừng phục hồi sở hữu độ phong phú cao nhất với 132 loài (chiếm 57%), rừng nguyên sinh đạt 92 loài (chiếm 40%), trảng cỏ cây bụi có 44 loài (chiếm 19%), rừng hỗn giao gỗ tre nứa có 38 loài (chiếm 16%), khu dân cư nương rẫy có 34 loài (chiếm 15%) và khu vực ven sông suối lòng hồ có 27 loài (chiếm 12%). Theo đai cao, đai dưới 400 m ghi nhận số loài áp đảo với 113 loài (chiếm 49%), đai 400 - 600 m có 78 loài, đai 600 - 800 m có 58 loài và đai trên 800 m có số loài thấp nhất với 49 loài (chiếm 21%).

Thảo luận kết quả

Khi mô tả sự phân bố qua biểu đồ cột và bảng tổng hợp đa biến, dữ liệu phản ánh quy luật giảm dần tuyến tính của số lượng loài chim theo độ cao địa hình. Đai dưới 400 m có tính đa dạng cao gấp 2,3 lần so với đai trên 800 m. Nguyên nhân chính là do vùng thấp sở hữu thảm thực vật nhiệt đới mưa ẩm nhiều tầng tán, nguồn thức ăn từ quả rừng, côn trùng phong phú và nhiệt độ trung bình ổn định quanh mức 25,3 độ C. Ngược lại, đai trên 800 m với diện tích đất Feralit mùn chỉ chiếm 15,4% diện tích khu bảo tồn, khí hậu lạnh và gió mạnh khiến thành phần loài thu hẹp, chủ yếu là các loài chuyên biệt thuộc bộ Ưng và bộ Sẻ.

So sánh với các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia trong khu vực địa lý sinh vật Bắc Trung Bộ, quy mô 232 loài của Xuân Liên vượt trội hơn Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hu (162 loài) và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông (116 loài), tiệm cận Vườn Quốc gia Vũ Quang (253 loài), và chỉ xếp sau các vùng lõi sinh quyển lớn như Vườn Quốc gia Bến En (261 loài) hay Vườn Quốc gia Pù Mát (325 loài).

Về các mối đe dọa, kết quả lượng hóa 52 lần ghi nhận trên 12 tuyến điều tra qua ma trận xếp hạng đã chỉ ra:

  1. Săn, bẫy bắt động vật hoang dã: Xếp hạng 1 với 16 điểm (13 lần bắt gặp, tần suất 16,85%). Các đối tượng sử dụng súng hơi tự chế và bẫy dây dày đặc đe dọa trực tiếp các loài kiếm ăn mặt đất như Gà tiền mặt vàng, Gà lôi trắng và các loài chim cảnh như Chích chòe lửa, Khướu.
  2. Đánh bắt thủy sản trái phép: Xếp hạng 2 với 14 điểm. Hoạt động dùng xung điện, lưới cào và thuốc nổ trên 2.438 ha lòng hồ Cửa Đạt đang phá hủy chuỗi thức ăn của các loài chim nước họ Diệc, Le nâu, Le hôi.
  3. Khai thác lâm sản ngoài gỗ: Xếp hạng 3 với 13 điểm (10 lần ghi nhận, tần suất 12,96%). Hoạt động khai thác hơn 20 tấn dược liệu mỗi năm cùng việc lấy măng, chặt nứa tạo quấy nhiễu liên tục trong vùng lõi.
  4. Tác động quấy nhiễu từ hạ tầng: Xếp hạng 4 với 9 điểm (11 lần ghi nhận, tần suất 14,26%), bắt nguồn từ tuyến đường tỉnh lộ Tây Thanh Hóa dài 30 km chạy xuyên qua khu bảo tồn làm phân mảnh sinh cảnh.
  5. Chăn thả gia súc tự do: Xếp hạng 5 với 6 điểm (9 lần ghi nhận, tần suất 11,67%), tập quán thả trâu bò từ 2 đến 10 con mỗi hộ gây nén chặt đất và phá hủy tầng cây tái sinh.
  6. Khai thác gỗ trái phép: Xếp hạng 6 với 5 điểm (3 lần ghi nhận, tần suất 3,89%), đã được kiểm soát tốt và chỉ còn xuất hiện nhỏ lẻ tại vùng giáp ranh.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Thiết lập chương trình giám sát định kỳ đối với 10 loài chim nguy cấp: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên cần thành lập ngay 5 trạm quan trắc chuyên đề tại các sinh cảnh rừng nguyên sinh và rừng phục hồi trên 800 m. Mục tiêu hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu giám sát số hóa trước quý 4 năm 2018, bảo vệ tuyệt đối các quần thể chim quý như Hồng hoàng, Niệc nâu, Gà lôi trắng và Khướu mỏ dài.
  2. Siết chặt thực thi pháp luật và triệt phá nạn săn bẫy chim: Lực lượng Kiểm lâm tăng cường phối hợp với Công an huyện Thường Xuân và Bộ đội Biên phòng tổ chức tuần tra tối thiểu 4 đợt mỗi tháng trên 12 tuyến điều tra trọng điểm. Đặt mục tiêu thu hồi 100% súng săn tự chế và tháo dỡ triệt để các bẫy dây dọc đường mòn tại 11 thôn bản vùng đệm trong giai đoạn 2017 - 2019.
  3. Bàn giao và thống nhất quản lý 2.438 ha vùng lòng hồ Cửa Đạt: Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa cần sớm ban hành quyết định giao toàn bộ diện tích mặt nước hồ Cửa Đạt thuộc địa giới khu bảo tồn cho Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên kiểm soát trước năm 2018. Giải pháp này giúp chấm dứt tình trạng đánh bắt cá bằng kích điện, bảo vệ bãi ăn và nơi cư trú của các loài chim di cư và chim nước.
  4. Quy hoạch phân vùng khai thác lâm sản và kiểm soát chăn thả: Chính quyền 5 xã vùng đệm gồm Bát Mọt, Yên Nhân, Lương Sơn, Xuân Cẩm, Vạn Xuân phối hợp với Hạt Kiểm lâm xác định ranh giới cấm chăn thả gia súc trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt từ năm 2017. Đồng thời khống chế hạn mức thu hái cây dược liệu dưới 10 tấn mỗi năm nhằm phục hồi lớp thảm tươi và tầng cây bụi cho chim làm tổ.
  5. Triển khai các chiến dịch truyền thông thay đổi hành vi: Tổ chức ít nhất 20 hội nghị tuyên truyền lưu động hàng năm tại các nhà văn hóa thôn bản. Lồng ghép nội dung bảo vệ động vật hoang dã vào hương ước bản làng, vận động 100% hộ dân ký cam kết không săn bắt, không nuôi nhốt và không tiêu thụ các sản phẩm từ chim rừng hoang dã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia: Cán bộ quản lý có thể ứng dụng trực tiếp ma trận đánh giá mối đe dọa của Margoluis và Salafsky cùng quy trình lập 12 tuyến điều tra thực địa để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và tuần tra bảo vệ Đa dạng sinh học.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Lâm nghiệp, Sinh thái học: Luận văn là tài liệu học thuật giá trị cung cấp dẫn liệu chi tiết về danh lục 232 loài chim, cấu trúc phân loại học vùng Bắc Trung Bộ và phương pháp luận kết hợp giữa điều tra tuyến, lưới mờ và phỏng vấn cộng đồng.
  • Chi cục Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa: Cung cấp số liệu thực chứng về 10 loài chim quý hiếm và hiện trạng vùng hồ Cửa Đạt để hoạch định chính sách phân vùng bảo tồn, giao đất giao rừng và phê duyệt các dự án đầu tư trang thiết bị lâm nghiệp.
  • Các tổ chức phi chính phủ và quỹ tài trợ bảo tồn quốc tế: Sử dụng dữ liệu hiện trạng về các loài nguy cấp toàn cầu như Hồng hoàng (Buceros bicornis) và Khướu mỏ dài (Jabouilleia danjoui) làm căn cứ xây dựng hồ sơ tài trợ các dự án bảo tồn nguồn gen và phục hồi sinh cảnh liên biên giới Việt - Lào.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận văn đã bổ sung được bao nhiêu loài chim mới cho danh lục Khu Bảo tồn Xuân Liên? Nghiên cứu đã ghi nhận bổ sung 40 loài chim, 14 họ và 2 bộ so với danh lục năm 2013, nâng tổng số loài của khu hệ lên 232 loài thuộc 55 họ và 17 bộ. Các phát hiện mới đáng chú ý gồm Cò ngàng lớn, Cao cát bụng trắng, Diều mào và Cu rốc đầu đỏ.

  2. Tại sao sinh cảnh rừng thứ sinh và phục hồi lại có số loài chim cao hơn rừng nguyên sinh? Rừng thứ sinh và rừng phục hồi có 132 loài (chiếm 57%), cao hơn rừng nguyên sinh với 92 loài (40%) do sinh cảnh này có cấu trúc tầng tán phong phú, nguồn thức ăn đa dạng từ hạt, chồi non và côn trùng, tạo điều kiện thuận lợi cho các loài chim thích nghi rộng thuộc bộ Sẻ và bộ Gõ kiến sinh sống.

  3. Đai cao nào tại Xuân Liên ghi nhận mức độ đa dạng loài chim tập trung lớn nhất? Đai cao dưới 400 m tập trung đa dạng sinh học cao nhất với 113 loài (chiếm 49% khu hệ), nhờ vi khí hậu nhiệt đới ấm áp, lượng mưa điều hòa và nguồn thức ăn dồi dào. Ngược lại, đai trên 800 m chỉ ghi nhận 49 loài (21%) do điều kiện thời tiết khắc nghiệt hơn.

  4. Mối đe dọa nào đang tác động nguy hiểm nhất đến khu hệ chim tại khu bảo tồn? Săn, bẫy bắt động vật hoang dã là mối đe dọa nghiêm trọng nhất với tổng điểm đánh giá 16 và tần suất bắt gặp 16,85%. Việc sử dụng súng tự chế và bẫy dây đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của các loài chim kiếm ăn mặt đất và các loài chim cảnh có giá trị cao.

  5. Những loài chim nguy cấp nào tại Xuân Liên cần được ưu tiên bảo tồn nguồn gen cấp bách? Có 10 loài chim quý hiếm cần ưu tiên bảo tồn, tiêu biểu là Gà lôi trắng và Gà tiền mặt vàng thuộc nhóm IB Nghị định 32/2006/NĐ-CP; Hồng hoàng và Niệc nâu thuộc nhóm IIB; cùng loài Khướu mỏ dài thuộc bậc Sắp bị đe dọa trong Danh lục Đỏ IUCN.

Kết luận

  • Tổng kết toàn diện khu hệ chim tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên với 232 loài thuộc 55 họ, 17 bộ; bổ sung mới 40 loài và chiếm 26,1% tổng số loài chim toàn quốc.
  • Xác định rõ nét quy luật phân bố sinh thái: đai dưới 400 m tập trung 49% số loài và sinh cảnh rừng thứ sinh phục hồi chiếm ưu thế với 57% số loài.
  • Khẳng định giá trị đa dạng sinh học đặc biệt với 10 loài chim quý hiếm có tên trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP, Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Danh lục Đỏ IUCN 2016.
  • Định lượng thứ bậc 6 mối đe dọa sinh thái, xác định săn bẫy động vật và đánh bắt thủy sản tại lòng hồ Cửa Đạt là hai nguy cơ hàng đầu cần xử lý.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa giám sát kỹ thuật, thực thi pháp luật nghiêm minh, bảo vệ sinh cảnh lòng hồ và tuyên truyền cộng đồng.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là hoàn thiện bộ dữ liệu phân loại học và bản đồ phân bố sinh thái khu hệ chim Xuân Liên sau nhiều năm thiếu hụt thông tin nghiên cứu chuyên sâu. Trong giai đoạn 2017 - 2020, các cơ quan quản lý cần khẩn trương hiện thực hóa việc tiếp nhận quyền quản lý lòng hồ Cửa Đạt và triển khai các đợt điều tra bổ sung cả 4 mùa trong năm. Các đơn vị nghiên cứu và tổ chức bảo tồn hãy tham khảo và ứng dụng ngay các kết quả của luận văn vào công tác bảo vệ đa dạng sinh học rừng đặc dụng trên thực tế.