Mở đầu thời kỳ này là chƣơng trình khảo sát do Viện Sinh vật học thuộc Viện Khoa học Việt Nam tổ chức từ ngày 5/3 đến ngày 12/5 năm 1977 ở miền Tây Nam bộ: Hà Tiên, Phú Quốc, Côn Đảo, Mũi Gót, rừng U Minh, Rạch Giá, Tây Ninh. Sau đó hàng loạt khảo sát của Viện Sinh vật học, Khoa Sinh vật của Trƣờng Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Trƣờng Đại học Huế, Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện Nghiên cứu biển Nha Trang ở nhiều địa phƣơng khác nhau nhƣ: Xuân Sơn (Phú Thọ), Mƣờng Nhà và Mƣờng Lói (Điện Biên), vùng Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng). Trong giai đoạn này có 1 loài Ếch nhái và 5 loài thằn lằn mới đƣợc phát hiện ở Việt Nam trong đó có 3 loài do Darevsky và Nguyễn Văn Sáng mô tả (Nguyen et al. T ờ kỳ từ n m 1987 đến na Sau thời kỳ đổi mới, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, giao lƣu với các nƣớc thuận tiện hơn, sự bùng nổ thông tin đã giúp cho những cán bộ nghiên cứu về lƣỡng cƣ có cơ hội trao đổi kinh nghiệm và tham khảo các tài liệu.
Công tác nghiên cứu và bảo tồn, do vậy cũng phát triển mạnh mẽ đặc biệt là sau năm 1990. Các lĩnh vực nghiên cứu cũng hết sức đa dạng: phân loại học, hệ thống học, di truyền và tiến hoá, sinh học, sinh thái học, ký sinh trùng và bệnh học. Có thể nói đây là thời kỳ phát triển đáng khích lệ của các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 nghiên cứu về lƣỡng cƣ ở Việt Nam, đóng góp đáng kể cho khoa học cũng nhƣ góp phần vào sự phát triển của đất nƣớc. Về thành phần loài, số lƣợng loài Ếch nhái và bò sát tăng lên nhanh chóng: năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc thống kê ở nƣớc ta có 340 loài (82 loài Ếch nhái, 258 loài bò sát[20], đến năm 2005 tổng số loài đã lên tới 458 loài (162 loài Ếch nhái, 296 loài bò sát (Nguyễn Văn Sáng và cs., 2005)[21], và cuốn danh lục xuất bản năm 2009 đã ghi nhận tổng số loài là 545 loài (177 loài Ếch nhái, 368 loài bò sát) (Nguyen et al.
Số loài mới cho khoa học đƣợc công bố hàng năm cũng tăng lên rõ rệt qua các thời kỳ. Nếu trong thời kỳ 1975 - 1986 phát hiện đƣợc 6 loài mới cho khoa học, trong đó chỉ có 3 loài có tác giả là ngƣời Việt Nam thì từ năm 1987 - 2009, số loài phát hiện mới cho khoa học đã tăng lên 108 loài, trong đó có 65 loài có nhà khoa học Việt Nam tham gia và có tới 11 loài có tác giả đứng đầu là ngƣời Việt Nam. Từ năm 2010 - 2013 có 49 loài mới cho khoa học đƣợc tiếp tục phát hiện ở Việt Nam. Điều đó chứng tỏ cán bộ Việt Nam đã có những bƣớc trƣởng thành đáng kể và tiềm năng nghiên cứu về khu hệ Ếch nhái và bò sát ở nƣớc ta còn rất lớn.
Từ năm 1990 đến nay cùng với việc thành lập các Vƣờn Quốc gia và các KBTTN, việc nghiên cứu càng đƣợc phát triển mạnh. Năm 1993, Hoàng Xuân Quang nghiên cứu lƣỡng cƣ, bò sát ở Bắc Trung bộ. Từ năm 1994, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Lê Nguyên Ngật và nhiều tác giả khác đã nghiên cứu ở Vƣờn Quốc gia Tam Đảo và thị trấn Tam Đảo, đến nay đã phát hiện có 57 loài lƣỡng cƣ, 124 loài bò sát []. Năm 1996, Lê Nguyên Ngật, Nguyễn Văn Sáng ghi nhận 17 loài lƣỡng cƣ, 42 loài bò sát ở rừng Cúc Phƣơng và ở Ngọc Linh (Kontum, 1997)[9]; Năm 1998, Ngô Đắc Chứng nghiên cứu ở Nam Bình Trị Thiên có 28 loài lƣỡng cƣ, 147 loài bò sát (Ngô LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Đắc Chứng, 1998)[15]; Năm 1997, Hoàng Xuân Quang và cs.
nghiên cứu ở Tây Nam Nghệ An thống kê đƣợc 18 loài lƣỡng cƣ, 38 loài bò sát[10]; điều tra sự đa dạng và hiện trạng Ếch nhái, bò sát ở vùng núi Yên Tử trong thời gian 2004 đến năm 2008 (Trần Thanh Tùng, 2008);…. Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc xuất bản cuốn Danh lục Ếch nhái, bò sát Việt Nam với 82 loài Ếch nhái, 258 loài bò sát[20]. Orlov et al. (2002) tổng hợp và công bố danh sách các loài Ếch nhái, bò sát của Việt Nam (phần I) ghi nhận 147 loài lƣỡng cƣ.
Năm 2005, Nguyễn Văn Sáng và cs. công bố cuốn Danh lục Ếch nhái và bò sát Việt Nam đã ghi nhận 116 loài bò sát thuộc 23 họ, 3 bộ và 135 loài lƣỡng cƣ thuộc 9 họ, 3 bộ. Năm 2009, Nguyen et al. đã thống kê đƣợc 186 loài Ếch nhái thuộc 10 họ, 3 bộ và 375 loài bò sát thuộc 24 họ ở Việt Nam[21,22].
Trong Hội thảo Quốc gia về Lƣỡng cƣ và Bò sát ở Việt Nam lần thứ nhất diễn ra năm 2009 tại Trƣờng Đại học Sƣ phạm Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế, các báo cáo khoa học về đánh giá khu hệ Ếch nhái nhƣ: Điều tra tại KBTTN Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai năm 2008 - 2009 (Hồ Thu Cúc và cs. 2009) có 31 loài lƣỡng cƣ thuộc 5 họ, 1 bộ và 61 loài bò sát thuộc 13 họ, 2 bộ; Đánh giá sự đa dạng Ếch nhái ở KBTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa năm 2008 (Lê Nguyên Ngật và cs. 2009) có 38 loài lƣỡng cƣ thuộc 6 họ, 1 bộ và 53 loài bò sát thuộc 14 họ, 2 bộ; Thống kê thành phần loài Ếch nhái của huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp từ năm 2008 đến 2009 (Hoàng Thị Nghiệp và cs. 2009) ghi nhận 49 loài, trong đó có 17 loài lƣỡng cƣ thuộc 5 họ và 32 loài bò sát thuộc 11 họ; Nghiên cứu tính chất địa động vật của khu hệ Ếch nhái và bò sát của tỉnh Phú Yên (Trần Duy Ngọc và cs.
2009); Ziegler et al. 2009 đã tổng kết 10 năm nghiên cứu đa dạng sinh học Ếch nhái, bò sát ở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Vƣờn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng từ năm 2000 đến 2009 thống kê 45 loài lƣỡng cƣ và 33 loài bò sát,…. Trong báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ III năm 2009, có một số kết quả nghiên cứu về đa dạng khu hệ Ếch nhái của một số vùng trên cả nƣớc: Điều tra đa dạng Ếch nhái bò sát tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ (Nguyễn Văn Sáng và cs. 2009) ghi nhận 77 loài thuộc 22 họ, 5 bộ gồm 48 loài bò sát thuộc 14 họ, 2 bộ và 29 loài Ếch nhái thuộc 8 họ, 3 bộ; Điều tra tại VQG và Khu BTTN Lam Kinh tỉnh Thanh Hóa (Nguyễn Kim Tiến, 2009)[22] cho thấy có 49 loài Ếch nhái và 72 loài bò sát thuộc 22 họ, 73 giống,… Trong báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ IV năm 2011, có một số báo cáo nghiên cứu về đa dạng khu hệ Ếch nhái: Điều tra tại KBTTN Pù Huống, tỉnh Nghệ An (Lê Vũ Khôi và cs., 2011)[10] ghi nhận 72 loài bò sát thuộc 15 họ, 2 bộ và lớp lƣỡng cƣ có 25 loài thuộc 7 họ, 1 bộ; Điều tra lƣỡng cƣ, bò sát tại vùng An Giang, Đồng Tháp (Hoàng Thị Nghiệp và cs., 2011) ghi nhận 24 loài lƣỡng cƣ thuộc 2 bộ, 6 họ ; Nghiên cứu khu hệ VQG Côn Đảo, Bà Rịa - Vũng Tàu (Poyarkov, 2011) chỉ ra 11 loài lƣỡng cƣ thuộc 2 bộ, 6 họ và 31 loài bò sát thuộc 16 họ, 3 bộ;….
Hoàng Xuân Quang và cs., 2012[11] điều tra khu hệ Ếch nhái, bò sát ở VQG Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế đã thống kê đƣợc 44 loài Ếch nhái thuộc 6 họ, 1 bộ và 64 loài bò sát thuộc 14 họ, 2 bộ. Trong báo cáo Hội thảo quốc gia về lƣỡng cƣ, bò sát ở Việt Nam lần thứ II tổ chức tại Đại học Vinh (Nghệ An, 2012), có một số báo cáo về đa dạng khu hệ Ếch nhái, bò sát : Nghiên cứu thành phần loài bò sát và Ếch nhái ở Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa (Phạm Thế Cƣờng và cs, 2012)[28] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 với 70 loài đƣợc ghi nhận trong đó có 38 loài bò sát và 32 loài Ếch nhái; Nghiên cứu sự đa dạng thành phần loài Ếch nhái, bò sát ở khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An (Hoàng Ngọc Thảo và nnk, 2012)[11] ghi nhận 144 loài Ếch nhái, bò sát thuộc 24 họ, 5 bộ;…. Bên cạnh đó có rất nhiều loài mới đƣợc mô tả và nhiều loài mới đƣợc ghi nhận từ năm 2010 trở lại đây nhƣ loài Leptolalax bidoupensis (Rowley et al., 2011); Theloderma palliatum và T.nebulsum (Rowley et al.,2011); Gracixalus quangi (Rowley et al.,2011); Leptobrachium leucops (Stuart et al., 2011); Ichthyophis nguyenorum (Nishikawa, 2012); Leptolalax firthi (Rowley et al. Bên cạnh các nghiên cứu về phân loại học, nhiều công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố về quan hệ di truyền tiến hóa cũng hỗ trợ cho việc sắp xếp và hệ thống lại các loài ếch nhái, bò sát ở Việt Nam.
Hàng loạt các loài thuộc một số giống nhƣ Philautus đƣợc chuyển sang giống Gracixalus và Theloderma (Rowley et al., 2011; Orlov et al. Về các loài quý hiếm: Năm 1992, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trƣờng xuất bản Sách Đỏ Việt Nam (Phần Động vật) trong đó liệt kê 43 loài bò sát và 11 loài lƣỡng cƣ bị đe dọa. Năm 2000, Sách Đỏ Việt Nam đƣợc tái bản có chỉnh sửa và bổ sung đã thống kê 43 loài bò sát và 11 loài lƣỡng cƣ. Mới đây nhất, Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 đã ghi nhận 40 loài bò sát và 13 loài Ếch nhái bị đe dọa ở Việt Nam[1].
Cho đến nay đã có 9 chuyên khảo về Ếch nhái và bò sát việt Nam đƣợc xuất bản: Danh lục bò sát và Ếch nhái Việt Nam của Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc (1996)[25], Ếch nhái và bò sát ở một khu Bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam [Die Amphibien und Reptilien eines Tieflandfeuchtwald- Schutzgebietes in Vietnam] của Ziegler (2002), Bò sát và Ếch nhái Vƣờn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Quốc gia Cúc Phƣơng của Nguyễn Văn Sáng và cs. (2003), Danh lục Ếch nhái và bò sát Việt Nam của Nguyễn Văn Sáng và cs. (2005) [26], Động vật chí Việt Nam - Phân bộ Rắn của Nguyễn Văn Sáng (2007)[], Thằn lằn Việt Nam của Bobrov và Semenov (2008)[], Ếch nhái, bò sát ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống của Hoàng Xuân Quang và cs. (2008)[11], Khu hệ bò sát và Ếch nhái Việt Nam [Herpetofauna of Vietnam] của Nguyen et al.