Tổng quan nghiên cứu

Vườn quốc gia Cát Tiên là một trong những trung tâm đa dạng sinh học quan trọng bậc nhất của Việt Nam, thuộc danh sách 200 vùng sinh thái tiêu biểu toàn cầu được Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên công nhận từ năm 2001. Với diện tích tự nhiên rộng lớn trải dài qua ba tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước, vùng đất này đã được tổ chức UNESCO công nhận là Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới vào năm 2001 và công nhận khu vực Bàu Sấu là Vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế Ramsar vào năm 2005. Mặc dù sở hữu giá trị sinh thái đặc biệt phong phú, công tác bảo tồn tài nguyên rừng tại đây luôn chịu sức ép nặng nề từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư sinh sống quanh vùng đệm.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm tập trung vào sự thiếu hụt nhận thức và những xung đột lợi ích kinh tế trong cộng đồng địa phương, dẫn tới các hành vi xâm hại tài nguyên rừng như săn bắt động vật hoang dã và khai thác gỗ nhỏ lẻ. Mục tiêu cụ thể của công trình là điều tra thực trạng nhận thức của 90 hộ dân, nhận diện những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến các hành vi tiêu cực, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao nhận thức gắn liền với cải thiện sinh kế bền vững. Phạm vi nghiên cứu được triển khai tại 3 xã vùng đệm tiếp giáp trực tiếp với Vườn quốc gia gồm xã Nam Cát Tiên, xã Đắk Lua thuộc huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai và xã Phước Cát 2 thuộc huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, diễn ra trong giai đoạn từ ngày 28 tháng 2 năm 2022 đến ngày 21 tháng 5 năm 2022. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu được đo lường qua các chỉ số mục tiêu: nâng tỷ lệ người dân hiểu đúng luật lâm nghiệp lên trên 85%, giảm thiểu 70% các vụ vi phạm sinh cảnh rừng và hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu thu nhập cho các hộ gia đình phụ thuộc vào rừng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng mô hình quá trình thay đổi hành vi con người trong bảo tồn thiên nhiên gồm 5 giai đoạn liên hoàn: Xây dựng nhận thức, Tăng cường sự quan tâm, Thay đổi thái độ, Chuyển đổi hành vi và Củng cố hành vi thành thói quen lâu dài. Theo luận điểm khoa học của tác giả Bùi Xuân Trường công bố năm 2020, việc cung cấp tri thức môi trường đúng cách là bước khởi đầu bắt buộc để kích hoạt sự chú ý, tạo tiền đề cho những điều chỉnh trong lối sống thường nhật của cộng đồng bản địa.

Song song với đó, nghiên cứu vận dụng định nghĩa chuẩn về Giáo dục môi trường được Hội nghị Liên chính phủ của UNESCO thông qua từ năm 1977, hướng tới 5 mục tiêu trụ cột: Nhận thức, Tri thức, Thái độ, Kỹ năng và Sự tham gia chủ động. Các khái niệm bổ trợ then chốt bao gồm Truyền thông môi trường hai chiều, Vai trò đồng quản lý tài nguyên của chính quyền cấp xã, Tổ chức đoàn thể địa phương và Năng lực tự quản của từng hộ gia đình. Các mô hình lý thuyết này chỉ ra rằng công tác bảo tồn không thể chỉ dựa vào mệnh lệnh hành chính đơn thuần mà phải kết hợp giữa truyền thông tương tác đa chiều và hỗ trợ nâng cao quyền năng kinh tế cho người dân sở tại.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu gồm 90 người đại diện cho 90 hộ gia đình sinh sống trực tiếp tại 3 xã vùng đệm Nam Cát Tiên, Đắk Lua và Phước Cát 2. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên có chủ đích, nhằm phản ánh đầy đủ các thành phần dân tộc thiểu số như người S'tiêng, người Tày, người Mạ cùng các nhóm hộ có mức thu nhập và ngành nghề canh tác khác nhau.

Quy trình thu thập dữ liệu kết hợp nhiều phương pháp khoa học:

  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Phân tích các văn bản pháp luật về lâm nghiệp, báo cáo quy hoạch bảo tồn của Vườn quốc gia Cát Tiên giai đoạn 2021-2030 và các chiến lược tài chính bền vững của ngành lâm nghiệp.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành đi tuyến điều tra thực tế trong 2 ngày 22 và 23 tháng 4 năm 2022 để thu thập ấn phẩm truyền thông và tiến hành phỏng vấn sâu.
  • Phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia cùng kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc và thảo luận nhóm tập trung với sự tham gia của tiến sĩ Lê Bửu Thạch, chuyên gia có hơn 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực sinh thái học và giáo dục môi trường.
  • Quy trình Đánh giá nhu cầu đào tạo gồm 5 bước logic: Xác định vấn đề, Thiết kế khảo sát, Thu thập dữ liệu thực tế, Phân tích dữ liệu và Lập báo cáo nhu cầu đào tạo cho 100% đối tượng học viên.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích ma trận SWOT kết hợp tham vấn chuyên gia là nhằm đánh giá khách quan các Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội và Thách thức của các mô hình sinh kế. Cách tiếp cận này giúp đối chiếu trực tiếp giữa năng lực nội tại của cộng đồng với các rủi ro biến động thị trường, đảm bảo mỗi đề xuất can thiệp đều có tính ứng dụng cao và phù hợp với thực tiễn địa bàn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng tại 3 xã vùng đệm đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về nhận thức và đời sống kinh tế của cộng đồng địa phương:

Thứ nhất, tồn tại một lỗ hổng lớn trong nhận thức môi trường khi có tới 22% trong tổng số 90 người được khảo sát khẳng định rằng các hoạt động canh tác nông nghiệp và sinh hoạt thường nhật của họ hoàn toàn không gây bất kỳ tác động tiêu cực nào tới hệ sinh thái Vườn quốc gia Cát Tiên.

Thứ hai, công tác truyền thông đào tạo trước đây đạt hiệu quả rất thấp. Hơn 50% số người được hỏi cho biết họ chưa từng tham gia bất kỳ lớp tập huấn nào về bảo tồn đa dạng sinh học do địa phương hoặc Vườn quốc gia tổ chức. Trong số gần 50% người từng tham gia, phần lớn không thể ghi nhớ được các thông điệp cốt lõi do nội dung giảng dạy nặng tính học thuật và thời lượng khóa học quá ngắn chỉ từ 1 đến 2 ngày.

Thứ ba, cơ cấu sinh kế của người dân bộc lộ sự bấp bênh nghiêm trọng. Nguồn thu từ hoạt động nông nghiệp và lâm nghiệp chiếm từ 60% đến 80% tổng thu nhập hàng năm của các hộ gia đình. Tỷ lệ hộ cận nghèo tại các xã vẫn ở mức cao, trong đó mức thu nhập bình quân của những hộ nghèo nhất chỉ đạt khoảng 18 triệu đồng mỗi năm, tạo động cơ trực tiếp thúc đẩy hành vi vào rừng khai thác lâm sản trái phép.

Thứ tư, về mặt trình độ học vấn, hơn 70% người dân tại 3 xã đã hoàn thành bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông. Con số này chứng minh cộng đồng hoàn toàn có khả năng tiếp nhận các kiến thức bảo tồn hiện đại nếu tài liệu được trực quan hóa và phương thức truyền tải phù hợp với thói quen sinh hoạt của họ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng thờ ơ với công tác bảo tồn bắt nguồn từ vòng lặp khó khăn giữa sinh kế nghèo nàn và phương thức tuyên truyền thụ động. Các hình thức truyền thông truyền thống như bảng tin xã hay loa phát thanh cố định thường không tiếp cận được những người lao động trực tiếp trên nương rẫy. Khi áp lực cơm áo gạo tiền đè nặng với mức thu nhập vỏn vẹn 18 triệu đồng mỗi năm, các giá trị bảo tồn sinh thái trở nên xa vời đối với người dân nếu không mang lại lợi ích tài chính thiết thực.

So sánh với các nghiên cứu bảo tồn tại các khu bảo tồn thiên nhiên khác trên toàn quốc, kết quả nghiên cứu tại Cát Tiên một lần nữa khẳng định quy luật: nâng cao nhận thức bắt buộc phải song hành với việc tạo ra giải pháp tài chính thay thế. Trong báo cáo kết quả, các dữ liệu này có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu thu nhập nông lâm nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo 60% đến 80%, kết hợp biểu đồ cột so sánh tỷ lệ 22% người dân nhận thức sai lệch và bảng ma trận đối chiếu 5 tiêu chí giữa phương thức đào tạo cũ với mô hình tập huấn cải tiến. Cách biểu diễn trực quan này giúp các nhà quản lý dễ dàng nhận diện điểm nghẽn và đưa ra quyết định can thiệp chính xác.

Đề xuất và khuyến nghị

Để giải quyết triệt để các tồn tại trên, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ với các mục tiêu hành động cụ thể:

Thứ nhất, đổi mới công nghệ truyền thông và ấn phẩm giáo dục môi trường. Triển khai ứng dụng hệ thống tin nhắn tự động qua giao thức mạng viễn thông tới số điện thoại của 100% chủ hộ gia đình để nhắc nhở lịch sinh hoạt và phổ biến cảnh báo phòng cháy rừng. Thiết kế lại các ấn phẩm poster theo phong cách tối giản, tăng hình ảnh minh họa sinh động tại các khu chợ và trường học. Thành lập các câu lạc bộ yêu thiên nhiên dành riêng cho người trưởng thành và tổ chức hội chợ văn hóa định kỳ hàng tháng kết hợp trình diễn nghệ thuật cồng chiêng của người S'tiêng. Thời gian thực hiện từ quý 1 năm 2023 đến năm 2025 do Ban Quản lý Vườn quốc gia chủ trì phối hợp cùng Ủy ban nhân dân 3 xã và các nhà mạng viễn thông.

Thứ hai, chuẩn hóa chương trình tập huấn nâng cao năng lực thích ứng dựa trên khảo sát nhu cầu đào tạo. Tổ chức định kỳ 3 khóa tập huấn mỗi năm cho từng xã, quy mô 50 học viên mỗi lớp, nâng thời lượng đào tạo lên từ 4 đến 8 ngày nhằm tạo điều kiện cho các hộ nông dân linh hoạt sắp xếp thời gian. Biên soạn song song 2 bộ tài liệu dưới dạng cẩm nang giấy và sách điện tử có thể tra cứu nhanh trên điện thoại thông minh. Mục tiêu đạt 100% học viên tham gia nắm vững kỹ thuật canh tác sạch. Thời gian triển khai hàng năm giai đoạn 2023-2026 do Vườn quốc gia Cát Tiên và các chuyên gia môi trường phụ trách.

Thứ ba, xây dựng và nhân rộng 4 mô hình sinh kế bền vững nhằm giảm áp lực khai thác rừng. Cung cấp vốn vay ưu đãi phát triển cây ăn trái đặc sản có giá trị cao như sầu riêng, bơ và điều cao sản cho các hộ dân tại xã Phước Cát 2. Quy hoạch các bãi chăn thả gia súc tập trung có kiểm soát tại xã Đắk Lua để hạn chế thả rông trong rừng. Chuyển giao công nghệ và bao tiêu sản phẩm nấm ăn, nấm dược liệu từ khu thực nghiệm của Vườn quốc gia tới các tổ hợp tác tại 3 xã. Hỗ trợ phát triển dịch vụ homestay bản địa tại xã Nam Cát Tiên. Mục tiêu nâng thu nhập bình quân của các hộ tham gia lên trên 35 triệu đồng mỗi năm vào năm 2026.

Thứ tư, phát triển 6 tuyến du lịch sinh thái liên kết vùng và 7 nhóm sản phẩm du lịch có sự tham gia của cộng đồng. Mở rộng kết nối các tour từ Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Bình Dương và Đà Lạt về Cát Tiên; đa dạng hóa các sản phẩm du lịch giáo dục môi trường, du lịch mạo hiểm và bán đồ lưu niệm thủ công mỹ nghệ bằng vật liệu thân thiện như mây tre đan. Mục tiêu thu hút trên 50.000 lượt khách trải nghiệm du lịch cộng đồng mỗi năm, tạo nguồn thu ổn định cho quỹ bảo tồn và cư dân địa phương giai đoạn 2023-2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, Ban Giám đốc và cán bộ quản lý tại các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên trên toàn quốc. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng khung đánh giá nhu cầu đào tạo và mô hình truyền thông qua tin nhắn tự động để tối ưu hóa công tác quản lý vùng đệm, thay thế cho các phương pháp hành chính truyền thống kém hiệu quả.

Thứ hai, Lãnh đạo Ủy ban nhân dân, cán bộ địa chính - nông nghiệp và các hội đoàn thể cấp xã tại các địa phương có rừng đặc dụng. Công trình cung cấp giải pháp tổ chức hội chợ văn hóa bản địa kết hợp tuyên truyền lâm luật, giúp cán bộ cơ sở lồng ghép nhiệm vụ bảo tồn vào các chương trình xây dựng nông thôn mới.

Thứ ba, Giảng viên, sinh viên và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên và Xã hội học. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia, ma trận phân tích điểm mạnh điểm yếu và bộ dữ liệu điều tra thực chứng 90 mẫu.

Thứ tư, Các tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực phát triển bền vững và các doanh nghiệp lữ hành du lịch sinh thái. Luận văn cung cấp mô hình liên kết chuỗi giá trị nấm và định hướng 6 tuyến du lịch cộng đồng, hỗ trợ xây dựng các đề án tài trợ sinh kế và phát triển tour du lịch trách nhiệm.

Câu hỏi thường gặp

Nghiên cứu lựa chọn 3 xã Nam Cát Tiên, Đắk Lua và Phước Cát 2 dựa trên cơ sở khoa học nào? Ba xã này tiếp giáp trực tiếp với ranh giới vùng lõi của Vườn quốc gia, nơi có mật độ dân cư đông đúc và hơn 60% thu nhập của người dân phụ thuộc vào nông lâm nghiệp. Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và tập quán văn hóa giữa 3 địa phương đại diện cho bức tranh toàn cảnh về áp lực sinh kế tác động lên tài nguyên rừng Cát Tiên.

Tỷ lệ 22% người dân cho rằng họ không gây ảnh hưởng đến Vườn quốc gia phản ánh thực trạng gì? Con số 22% phản ánh khoảng trống nhận thức nghiêm trọng của một bộ phận cư dân, khi họ chưa nhận thức được rằng các hành vi tích tiểu thành đại như chăn thả gia súc bừa bãi hay thu hái lâm sản phụ đều trực tiếp làm suy giảm đa dạng sinh học. Điều này chứng minh các chương trình tuyên truyền trước đây chưa truyền tải được thông điệp cốt lõi đến người lao động.

Quy trình Đánh giá Nhu cầu Đào tạo khác biệt gì so với các lớp tập huấn truyền thống? Quy trình này thực hiện khảo sát kỹ lưỡng nhu cầu của 100% học viên trước khi mở lớp, thiết kế bài giảng ngắn gọn gắn với kỹ năng thực tế, đồng thời kéo dài thời lượng lên từ 4 đến 8 ngày thay vì 1 đến 2 ngày như trước. Học viên còn được cung cấp cẩm nang điện tử để tự tra cứu trên điện thoại di động mọi lúc mọi nơi.

Mô hình chuỗi giá trị nấm thương phẩm giúp giảm thiểu áp lực phá rừng ra sao? Khu thực nghiệm của Vườn quốc gia cung cấp phôi giống chuẩn, đào tạo kỹ thuật trồng nấm rơm, nấm linh chi và ký hợp đồng cam kết thu mua sản phẩm cho các tổ hợp tác. Mô hình này tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, mang lại thu nhập ổn định tại nhà cho các hộ nghèo mà không cần phải vào rừng khai thác gỗ hay săn bắn trái phép.

Giải pháp gửi tin nhắn tự động mang lại ưu thế gì trong truyền thông môi trường? Phương thức này giúp thông tin về phòng cháy chữa cháy rừng, lịch sinh hoạt cộng đồng và quy định xử phạt được gửi trực tiếp, tức thì đến điện thoại của từng chủ hộ. Giải pháp khắc phục triệt để nhược điểm chậm trễ của giấy mời họp thôn và tình trạng người dân đi làm nương rẫy không thể nghe loa truyền thanh xã.

Kết luận

  • Công trình đã làm rõ thực trạng nhận thức của 90 hộ dân tại 3 xã vùng đệm Vườn quốc gia Cát Tiên, chỉ ra rào cản cốt lõi là sự thiếu hụt thông tin kết hợp với áp lực sinh kế bấp bênh khi nông lâm nghiệp chiếm tới 60% đến 80% thu nhập.
  • Đóng góp khoa học nổi bật của nghiên cứu là việc hệ thống hóa quy trình Đánh giá nhu cầu đào tạo 5 bước và đề xuất mô hình can thiệp đa chiều, kết hợp hài hòa giữa chuyển đổi số trong truyền thông và hỗ trợ mô hình kinh tế xanh.
  • Bốn nhóm giải pháp đề xuất bao gồm: đổi mới truyền thông bằng công nghệ tin nhắn, tổ chức tập huấn chuyên sâu 4 đến 8 ngày, phát triển 4 mô hình sinh kế như trồng nấm và cây đặc sản, cùng việc quy hoạch 6 tuyến du lịch sinh thái liên kết vùng.
  • Lộ trình thực hiện được phân kỳ rõ ràng từ năm 2023 đến năm 2030, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Ban Quản lý Vườn quốc gia Cát Tiên, chính quyền địa phương 3 xã, các nhà mạng viễn thông và các doanh nghiệp lữ hành.
  • Để biến các giải pháp thành hiện thực, các cơ quan ban ngành và các tổ chức quốc tế cần chung tay bố trí nguồn vốn ưu đãi, tạo điều kiện chuyển giao kỹ thuật kịp thời, hướng tới mục tiêu bảo tồn bền vững di sản thiên nhiên Cát Tiên cho các thế hệ tương lai.