Tổng quan nghiên cứu

Khu hệ bò sát và ếch nhái (lưỡng cư) giữ vai trò chỉ thị sinh thái then chốt trong việc đánh giá tính toàn vẹn và độ ổn định của các hệ sinh thái rừng nhiệt đới. Trên phạm vi toàn quốc, Việt Nam ghi nhận khoảng 369 loài bò sát thuộc 24 họ và 176 loài lưỡng cư thuộc 10 họ. Trong đó, các dải rừng nguyên sinh trên núi đá vôi vùng đất thấp miền Bắc là nơi lưu giữ nguồn gen vô cùng quý giá nhưng cũng chịu nhiều tổn thương nhất. Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngỗ Luông thuộc địa bàn hai huyện Tân Lạc và Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, với tổng diện tích quy hoạch 15.890,63 ha, là một trong những cảnh quan Karst tiêu biểu còn sót lại.

Tuy nhiên, áp lực dân sinh từ 2.568 hộ gia đình với trên 13.500 nhân khẩu sinh sống tại 7 xã vùng lõi và vùng đệm (trong đó đồng bào dân tộc Mường chiếm 98%, tỷ lệ nghèo dao động từ 40,5% đến 47,2%) đang tạo ra những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến tài nguyên rừng. Tình trạng săn bắt động vật hoang dã làm thực phẩm, dược liệu cùng việc chuyển đổi đất rừng làm nương rẫy khiến nhiều quần thể sinh vật suy giảm mạnh. Trước thực trạng đó, đề tài nghiên cứu được triển khai từ tháng 02/2015 đến tháng 04/2015 nhằm đạt ba mục tiêu chính: xác định thành phần loài bò sát và ếch nhái; đánh giá mức độ phân bố theo sinh cảnh và các mối đe dọa trực tiếp; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản lý bảo tồn bền vững. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập danh lục 85 loài, làm cơ sở khoa học để các cơ quan chức năng xây dựng phương án bảo vệ đa dạng sinh học cấp thiết cho khu vực Tây Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết phân hóa ổ sinh thái và lý thuyết sinh thái học cảnh quan nhiệt đới, xem xét mối quan hệ tương hỗ giữa cấu trúc thảm thực vật rừng đá vôi Karst với sự thích nghi hình thái và tập tính của các nhóm bò sát, lưỡng cư. Việc phân loại cấu trúc rừng tuân thủ theo Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phân định rõ các trạng thái từ rừng tự nhiên núi đá nguyên sinh, rừng thứ sinh phục hồi đến rừng tre nứa và đất canh tác nông nghiệp.

Về mặt phân loại học động vật, nghiên cứu ứng dụng hệ thống phân loại hình thái học chuẩn của Đào Văn Tiến kết hợp cùng các công trình chỉnh lý hiện đại của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường. Các khái niệm cốt lõi được vận dụng xuyên suốt gồm: thành phần loài (Species composition), sinh cảnh đặc trưng (Microhabitat), tính phong phú tương đối và áp lực nhân sinh (Anthropogenic impacts). Khung đánh giá tình trạng nguy cấp được chuẩn hóa theo bốn tiêu chuẩn pháp lý và khoa học: Danh lục Đỏ IUCN, Sách Đỏ Việt Nam, Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ và Phụ lục Công ước CITES.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu sơ cấp tại thực địa và kế thừa dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2008–2014. Cỡ mẫu phỏng vấn được xác định tối thiểu 30 phiếu khảo sát, sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên chia đều cho 3 nhóm lứa tuổi (dưới 30 tuổi, từ 31 đến 50 tuổi, và trên 50 tuổi) tại các thôn bản thuộc xã Ngọc Lâu và Ngọc Sơn. Bộ công cụ phỏng vấn tích hợp bảng hỏi bán cấu trúc kèm danh lục hình ảnh màu trực quan nhằm tối ưu hóa độ chính xác của tri thức bản địa từ người dân và thợ săn giàu kinh nghiệm.

Điều tra thực địa được tổ chức trên 4 tuyến khảo sát trọng điểm cắt ngang qua 5 dạng sinh cảnh đại diện. Các tuyến được khảo sát linh hoạt theo 3 khung thời gian trong ngày: buổi sáng từ 7h30 đến 11h00, buổi chiều từ 14h00 đến 17h00 và buổi tối từ 19h00 đến 21h00 (sử dụng đèn pin công suất cao để phát hiện các loài hoạt động đêm). Mẫu vật được thu bắt, xử lý cố định bằng cồn 90 độ, đo đạc các chỉ số hình thái chi tiết và định loại bằng khóa phân loại chuyên dụng. Dữ liệu định lượng được tổng hợp, xử lý thống kê mô tả trên phần mềm Microsoft Excel, đồng thời định vị tọa độ GPS và số hóa bản đồ tuyến điều tra bằng phần mềm không gian ArcGIS. Việc kết hợp phương pháp điều tra tuyến với phỏng vấn chuyên sâu được lựa chọn vì tính tối ưu, phù hợp với địa hình núi đá vôi hiểm trở và khí hậu mưa phùn đặc thù của vùng núi cao Hòa Bình.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng hợp kết quả điều tra thực địa, phỏng vấn cộng đồng và kế thừa tư liệu khoa học, luận văn đã ghi nhận 85 loài bò sát và ếch nhái thuộc 20 họ và 3 bộ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngỗ Luông. Trong đó, lớp Bò sát có 50 loài thuộc 15 họ, 2 bộ; lớp Lưỡng cư có 35 loài thuộc 5 họ, 1 bộ. Đáng chú ý, nghiên cứu đã phát hiện và bổ sung 2 loài mới cho danh lục khu bảo tồn gồm Nhông emma (Calotes emma) thuộc họ Nhông (Agamidae) và Cóc mày aereus (Leptolalax aereus) thuộc họ Cóc bùn (Megophryidae).

Về cấu trúc họ, họ Rắn nước (Colubridae) chiếm ưu thế tuyệt đối ở nhóm bò sát với 15 loài (chiếm 17,65% tổng số loài), tiếp theo là họ Thằn lằn bóng (Scincidae) với 6 loài (7,06%), các họ Tắc kè (Gekkonidae), họ Nhông (Agamidae) và họ Rắn hổ (Elapidae) mỗi họ có 5 loài (5,88%). Ở nhóm lưỡng cư, họ Ếch nhái (Ranidae) phong phú nhất với 16 loài (chiếm 18,82%), họ Nhái bầu (Microhylidae) có 8 loài (9,42%) và họ Ếch cây (Rhacophoridae) có 6 loài (7,06%).

Sự phân bố theo 5 dạng sinh cảnh cho thấy sự chênh lệch rõ rệt: sinh cảnh làng bản, đồng ruộng ghi nhận số lượng nhiều nhất với 10 loài (11,76%), sinh cảnh đất nông nghiệp và đất trống núi đá ghi nhận 8 loài (9,41%), sinh cảnh ao hồ, khe suối ghi nhận 6 loài (7,06%), và thấp nhất là sinh cảnh rừng tre nứa tự nhiên núi đá chỉ có 3 loài (3,53%).

Về giá trị bảo tồn, nghiên cứu xác định có tới 24 loài quý hiếm nằm trong các danh mục ưu tiên bảo vệ. Cụ thể có 14 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (trong đó 2 loài ở cấp Cực kỳ nguy cấp CR là Trăn đất và Rắn hổ chúa, 6 loài cấp Nguy cấp EN và 6 loài cấp Sẽ nguy cấp VU); 10 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP (1 loài nhóm IB nghiêm cấm khai thác và 9 loài nhóm IIB); 6 loài trong Danh lục Đỏ IUCN (3 loài cấp EN gồm Rùa sa nhân, Rùa núi vàng, Ba ba gai); và 9 loài thuộc Phụ lục Công ước CITES.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ ghi nhận trực tiếp ngoài thực địa chỉ đạt 21,18% (18 loài), trong khi nguồn tin qua phỏng vấn đạt 83,53% (71 loài) và qua tài liệu lưu trữ đạt 96,5% (82 loài). Nguyên nhân chính là do đợt khảo sát diễn ra vào cuối mùa khô và đầu mùa mưa (tháng 2 đến tháng 4), nền nhiệt độ vùng cao còn thấp và thời tiết mưa phùn khiến nhiều loài bò sát, lưỡng cư giảm thiểu hoạt động kiếm ăn. Hơn nữa, địa hình núi Karst có đặc tính giữ nước mặt kém, hầu hết dòng chảy đều là nước ngầm, khiến số lượng khe suối lộ thiên rất hạn chế.

Khi so sánh với các khu bảo tồn lân cận thuộc vùng Tây Bắc, tính đa dạng thành phần loài tại Ngọc Sơn - Ngỗ Luông thể hiện sự vượt trội rõ rệt. Về bò sát, khu bảo tồn ghi nhận 50 loài, cao hơn đáng kể so với Hang Kia - Pà Cò (32 loài, cao hơn 56,25%), Pù Hu (28 loài, cao hơn 78,57%), Phu Canh (22 loài) và Thượng Tiến (18 loài). Về lưỡng cư, số lượng 35 loài tại khu bảo tồn tương đương với Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến (35 loài) và vượt trội so với Hang Kia - Pà Cò (24 loài) hay Pù Hu (14 loài).

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ cột kép so sánh đa dạng thành phần loài giữa các khu bảo tồn lân cận, biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ phần trăm cơ cấu các họ ưu thế, kết hợp bảng ma trận phân bố sinh cảnh và bản đồ không gian GIS thể hiện mật độ tuyến điều tra chồng xếp lên các điểm nóng chịu áp lực khai thác gỗ và lấn chiếm đất nông nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Để bảo tồn và phục hồi bền vững khu hệ bò sát, ếch nhái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngỗ Luông, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Tăng cường bảo vệ loài nguy cấp và khoanh vùng sinh cảnh trọng điểm: Thiết lập các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt tại sinh cảnh rừng tự nhiên núi đá và các hệ thống khe suối xã Tự Do, cắm mốc ranh giới rõ ràng, đặt mục tiêu giảm thiểu 50% số vụ vi phạm lấn chiếm đất rừng và săn bắt trái phép trong giai đoạn 2016–2018, do Ban Quản lý Khu bảo tồn chủ trì thực hiện.
  • Nâng cao năng lực tuần tra và ứng dụng công nghệ giám sát rừng: Tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu cho 100% cán bộ kiểm lâm và lực lượng nhận khoán bảo vệ rừng về kỹ năng định loại động vật hoang dã, sử dụng phần mềm SMART và hệ thống định vị GPS; duy trì tần suất tuần tra tối thiểu 12 đợt/tháng trên 4 tuyến trọng điểm, do Hạt Kiểm lâm khu bảo tồn phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hòa Bình triển khai.
  • Phát triển mô hình sinh kế thay thế và truyền thông cộng đồng: Triển khai các dự án nông lâm kết hợp, chăn nuôi bán thâm canh có kiểm soát nhằm tạo thu nhập ổn định cho hơn 2.500 hộ dân tại 7 xã vùng đệm, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 30% trong vòng 3 năm; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền quy định pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã đến từng thôn bản, do Ủy ban nhân dân huyện Tân Lạc, huyện Lạc Sơn phối hợp các tổ chức xã hội thực hiện.
  • Mở rộng hợp tác nghiên cứu khoa học và huy động nguồn vốn đầu tư: Thực hiện 2 đợt khảo sát chuyên sâu bổ sung vào chính mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) để cập nhật đầy đủ dữ liệu sinh sản và biến động quần thể; chủ động xây dựng đề án kêu gọi tài trợ từ các quỹ bảo tồn quốc tế trong giai đoạn 2016–2020, do Trường Đại học Lâm nghiệp phối hợp với Ban Quản lý Khu bảo tồn thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban Quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Cung cấp mô hình tham khảo chuẩn xác về phương pháp điều tra đa dạng sinh học và quy trình xây dựng kế hoạch hành động bảo tồn loài nguy cấp tại các hệ sinh thái núi đá vôi miền Bắc.
  • Cán bộ nghiên cứu, giảng viên và sinh viên khối ngành Lâm nghiệp, Sinh thái học: Sử dụng như tài liệu học thuật giá trị phục vụ giảng dạy, nghiên cứu phân loại học bò sát - lưỡng cư, phân tích sinh thái cảnh quan và phân tích dữ liệu không gian sinh thái.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về Kiểm lâm và Tài nguyên Môi trường: Tham khảo nguồn cơ sở dữ liệu thực chứng và hệ thống chỉ số định lượng để xây dựng chính sách quản lý tài nguyên rừng, phân bổ chỉ tiêu khoán bảo vệ rừng và quy hoạch mạng lưới rừng đặc dụng cấp tỉnh.
  • Các tổ chức phi chính phủ và các quỹ tài trợ bảo tồn quốc tế: Sử dụng số liệu đánh giá nguy cơ đe dọa và danh lục loài nguy cấp làm căn cứ thẩm định, phê duyệt và cấp vốn cho các dự án phát triển sinh kế gắn liền với bảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đã ghi nhận được bao nhiêu loài bò sát và ếch nhái tại khu vực nghiên cứu? Luận văn đã thống kê được 85 loài thuộc 20 họ và 3 bộ, bao gồm 50 loài bò sát thuộc 15 họ và 35 loài ếch nhái thuộc 5 họ. Đặc biệt, nghiên cứu đã phát hiện và bổ sung 2 loài mới cho danh lục khu bảo tồn là Nhông emma (Calotes emma) và Cóc mày aereus (Leptolalax aereus).

Mối đe dọa nào đang tác động nghiêm trọng nhất đến khu hệ bò sát và ếch nhái? Hai mối đe dọa hàng đầu được xác định là nạn săn bắt trái phép phục vụ nhu cầu thực phẩm, dược liệu và tình trạng phá hủy, chia cắt sinh cảnh sống. Hoạt động khai thác gỗ quý và đốt rừng làm nương rẫy trồng ngô, sắn tại các thung lũng đá vôi là nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm nguồn nước ngầm và mất nơi cư trú tự nhiên của các loài.

Vì sao sinh cảnh làng bản và đồng ruộng lại ghi nhận số loài nhiều nhất? Sinh cảnh làng bản và đồng ruộng ghi nhận tới 10 loài (chiếm 11,76%) do môi trường ẩm ướt nhân tạo và nguồn thức ăn côn trùng phong phú thu hút nhiều loài lưỡng cư thích nghi cao như Chẫu chàng, Cóc nhà, Ếch đồng, kéo theo sự xuất hiện của các loài rắn săn mồi như Rắn sọc dưa.

Có bao nhiêu loài động vật nguy cấp quý hiếm được ghi nhận trong nghiên cứu? Tổng cộng có 24 loài quý hiếm được bảo vệ theo luật pháp quốc gia và quốc tế, chiếm 28,24% tổng số loài ghi nhận. Tiêu biểu có 14 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (trong đó Trăn đất và Rắn hổ chúa ở cấp CR), 10 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP, 6 loài trong Sách Đỏ IUCN và 9 loài thuộc Phụ lục CITES.

Phương pháp phỏng vấn có vai trò như thế nào trong điều tra động vật tại vùng núi đá vôi? Phương pháp phỏng vấn 30 người dân với danh lục ảnh màu đạt hiệu quả nhận diện tới 83,53% số loài (71 loài). Đây là phương pháp bổ trợ xuất sắc cho việc đi tuyến thực địa trong điều kiện thời tiết khô lạnh và địa hình Karst hiểm trở, giúp khai thác hiệu quả tri thức sinh thái bản địa của thợ săn địa phương.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu toàn diện về khu hệ động vật có xương sống bậc thấp tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngỗ Luông với 85 loài (50 loài bò sát, 35 loài ếch nhái thuộc 20 họ), ghi nhận mới 2 loài cho khu vực.
  • Khẳng định giá trị đa dạng sinh học vượt trội của hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi Hòa Bình khi số lượng loài bò sát cao hơn hẳn các khu bảo tồn lân cận như Hang Kia - Pà Cò (50 so với 32 loài) và Pù Hu (50 so với 28 loài).
  • Xác lập bằng chứng khoa học về sự hiện diện của 24 loài nguy cấp, quý hiếm (với 2 loài Cực kỳ nguy cấp CR là Trăn đất và Rắn hổ chúa), nhấn mạnh tầm quan trọng quốc tế của khu bảo tồn trong mạng lưới rừng đặc dụng Việt Nam.
  • Nhận diện chính xác hai nhóm nguyên nhân gây suy thoái quần thể gồm nạn săn bắt thương mại và chuyển đổi sinh cảnh do canh tác nương rẫy, chăn thả gia súc tự do.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp quản lý đồng bộ gắn liền giữa kiểm soát lâm luật nghiêm ngặt với chuyển đổi sinh kế cho 2.568 hộ dân vùng đệm giai đoạn 2016–2020.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2016 trở đi, các đơn vị quản lý cần khẩn trương đưa bộ danh lục và bản đồ tuyến điều tra vào vận hành thực tế tại các trạm kiểm lâm cơ sở, đồng thời triển khai ngay các chương trình khảo sát bổ sung vào mùa mưa nhằm bảo tồn toàn vẹn di sản sinh thái quý giá của vùng Tây Bắc.