ĐẶT VẤN ĐỀ Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông có tổng diện tích 17.171,03 ha nằm trên địa phận của 2 huyện Quan Hóa và Bá Thƣớc, phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa, Bắc Trung bộ Việt Nam, nơi đây đƣợc xem là vị trí quan trọng ở phía Tây Bắc của dải núi đá vôi Pù Luông- Cúc Phƣơng- Ngọc Sơn. Theo kết quả điều tra năm 2013 tại đây đã ghi nhận có 2.487 loài động thực vật, trong đó có 1.579 loài thực vật thuộc 680 chi, 200 họ, 76 bộ, 12 lớp và 6 ngành đã đƣợc ghi nhận; với nhiều nhiều loài thực vật quý hiếm đƣợc xếp trong sách đỏ Việt Nam (2000) và sách đỏ thế giới (2002) nhƣ: Thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis), Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Lan Hài xanh (Paphiopedilum malipoense) Kim tuyến đá vôi (Anoectochilus calcareous), Bảy lá một hoa (Paris polyphylla)… Để bảo tồn đa dạng sinh học, trong những năm qua Ban quản lý Khu BTTN Pù Luông đã tăng cƣờng trong công tác quản lý bảo vệ rừng, phát triển kinh tế cho cộng đồng vùng đệm và vùng lõi của Khu bảo tồn nhằm giảm áp lực lên tài nguyên rừng đặc dụng, đặc biệt Khu bảo tồn bƣớc đầu đã thu hút đƣợc sự đầu tƣ trong nghiên cứu khoa học với sự ƣu tiên là nghiên cứu bảo tồn đối với các loài động thực vật quý hiếm, nguy cấp nhƣ đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật tạo giống hữu tính một số loài cây hạt trần quý hiếm tại khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông–Thanh Hóa”; Điều tra, nghiên cứu bảo tồn các loài Culy và các nhóm động vật: Chim, Bò sát, Côn trùng tại Khu BTTN Pù Luông; Điều tra, nghiên cứu bảo tồn một số loài cây thuốc quý hiếm tại Khu BTTN Pù Luông…, Kết quả đã xác định đƣợc hiện trạng phân bố, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và bƣớc đầu nhân giống thử nghiệm thành công đối với một số loài trong lĩnh vực nghiên cứu. Miao) và Trai Lý (Garcinia fagraeoides A.) là 2 trong số những loài đặc trƣng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 trên hệ sinh thái núi đá vôi của Khu bảo tồn, do có giá trị kinh tế cao nên đây cũng là 2 trong số các loài thực vật bị các đối tƣợng lâm tặc lợi dụng khai thác trái phép nhiều nhất tại Khu bảo tồn trong những năm qua. Theo kết quả của một số công trình nghiên cứu nhƣ Dự án điều tra lập danh lục hệ động thực vật Khu BTTN Pù Luông (2013), Đề tài "Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn một số loài thực vật quý hiếm tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa", Luận văn thạc sỹ Khoa học Lâm nghiệp, Trƣờng Đại học Lâm nghiệp nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Chính (2014), đã xác định đƣợc sự xuất hiện của các loài thực vật này tại Khu bảo tồn và xác định đƣợc một số điểm phân bố của chúng, tuy nhiên số liệu về hiện trạng phân bố của 2 loài thực vật hiện nay chƣa thực sự đầy đủ, chƣa đánh giá đƣợc khả năng nhân giống của 2 loài thực vật quý hiếm này tại Khu BTTN Pù Luông.
Vì vậy cần phải nghiên cứu một cách đầy đủ hơn để xác định đƣợc hiện trạng phân bố và khả năng nhân giống đối với 2 loài thực vật nhằm góp phần bảo tồn bền vững loài Nghiến và Trai lý tại Khu BTTN Pù Luông. Với lý do trên tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu bảo tồn loài Nghiến (Excentrodendron tonkinense (Gagnep) Chang & R. Miao) và Trai Lý (Garcinia fagraeoides A.) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Từ xa xƣa con ngƣời đã biết khai thác tài nguyên sinh vật để phục vụ cuộc sống và sự phát triển của mình; nhờ tiếp cận với tự nhiên họ đã biết phân loại sinh vật để nhận biết và khai thác chúng một cách có hiệu quả.
Ngày nay do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, kinh tế và nhu cầu mà con ngƣời càng ham hiểu biết về thế giới tự nhiên. Tuy nhiên, càng hiểu biết sâu về thế giới sinh vật con ngƣời càng khai thác tài nguyên sinh vật một cách tận diệt, vì thế nguồn tài nguyên đa dạng sinh học ngày càng giảm sút. Có thể nói vấn đề nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học là một trong những vấn đề đƣợc quan tâm hàng đầu trên thế giới. Tuy vậy những quan niệm về đa dạng sinh học cũng có những điểm chƣa thống nhất, chƣa đầy đủ và chƣa rõ ràng.
Trong chƣơng trình hành động đa dạng sinh học Việt Nam cũng nêu ra một khái niệm về đa dạng sinh học: “Đa dạng sinh học là tập hợp tất cả các nguồn sinh vật sống trên hành tinh gồm tổng số loài động vật và thực vật, tính đa dạng và sự phong phú trong từng loài tính đa dạng hệ sinh thái của cộng đồng sinh thái khác nhau, hoặc tập hợp các loài sống ở các vùng khác nhau trên thế giới với các hoàn cảnh khác nhau”. Với định nghĩa này đã đề cập đến ba vấn đề về đa dạng sinh học là đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái. Tuy nhiên định nghĩa trên còn dài dòng, không rõ ràng và dễ dẫn đến nhầm lẫn giữa tính phong phú và tính đa dạng; còn một điểm không rõ nữa của định nghĩa trên là chỉ nhắc đến hai nhân tố động vật và thực vật trong giới sinh vật mà bỏ quên quần xã sinh vật và các loài sinh vật khác nhƣ nấm, vi sinh vật… Trong tác phẩm “Đa dạng cho sự phát triền – Diversity for development” của Viện tài nguyên gen thực vật quốc tế (IPGRI) đa dạng sinh học đƣợc định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 nghĩa nhƣ sau: “Đa dạng sinh học là toàn bộ những biến dạng trong tất cả cơ thể sống và các phức hệ sinh thái mà chúng sống. Đa dạng sinh học có ba mức độ: Đa dạng hệ sinh thái, đa dạng loài và đa dạng di truyền”.
Định nghĩa về đa dạng sinh học đƣợc sử dụng thông dụng, ngắn gọn và đầy đủ nhất là định nghĩa về đa dạng sinh học trong công ƣớc về bảo tồn đa dạng sinh học đƣợc thông qua tại hội nghị thƣợng đỉnh toàn cầu ở Rio de Janeiro (1992). Định nghĩa đó nhƣ sau: “Đa dạng sinh học là sự biến đổi giữa các sinh vật ở tất cả mọi nguồn, bao gồm hệ sinh thái trên đất liền, trên biển và các hệ sinh thái nƣớc khác, sự đa dạng thể hiện trong từng loài, giữa các loài và các hệ sinh thái”. Định nghĩa này tƣơng đối đầy đủ và rõ ràng. Từ định nghĩa trên ta có thể rút ra đƣợc các nội dung của đa dạng sinh học là: - Đa dạng di truyền - tức là sự đa dạng về gen và nhiễm sắc thể.
- Đa dạng về loài. - Đa dạng về hệ sinh thái. Những công trình nghiên cứu đầu tiên xuất hiện ở Ai Cập cổ đại (cách đây hơn 3.000 năm TCN) và Trung Quốc cổ đại (2.200 năm TCN) sau đó là ở Hy Lạp, La Mã cổ đại cũng lần lƣợt xuất hiện hàng loạt các tác phẩm về thực vật. Theophrastus (371 - 286 TCN) là ngƣời đầu tiên đề xƣớng ra phƣơng pháp phân loại thực vật và phân biệt một số tính chất cơ bản trong cấu tạo cơ thể thực vật.
Trong hai tác phẩm "Lịch sử thực vật" (Historia Plantarum) và "Cơ sở thực vật" Ông mô tả đƣợc khoảng 500 loài cây. Sau đó Plinus (79 - 24 TCN) cho ra đời cuốn "Lịch sử tự nhiên" (Historia naturalis) Ông đã mô tả gần 1. Cùng thời gian này có Dioseoride (20 – 60 TCN) một thầy thuốc của vùng Tiểu Á đã xuất bản cuốn "Dƣợc liệu học". Ông nêu đƣợc hơn 500 loài cây cỏ và xếp chúng vào các họ khác nhau.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Trên thế giới, tổng số loài thực vật hiện nay có nhiều thay đổi và chƣa cụ thể, chƣa có sự nghiên cứu và điều tra đầy đủ. Các nhà thực vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500. Phêđôrốp (1965) đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 loài quyết thực vật; 14.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác. Những nghiên cứu về thành phần loài thực vật đƣợc tiến hành từ lâu trên thế giới.
Theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trƣng khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của chúng. Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại các loại hình thảm thực vật. - Bảo tồn và sử dụng hợp lý các tài nguyên sinh học đã trở thành một chiến lƣợc chung trên toàn cầu. Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hƣớng dẫn việc đánh giá bảo tồn đa dạng sinh học nhƣ: Công ƣớc ĐDSH; Hiệp Hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), Chƣơng trình môi trƣờng liên hợp quốc (UNEP), Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), Viện Tài nguyên di truyền quốc tế (IPGRI),.
Nhiều hội nghị và hội thảo đƣợc tổ chức và nhiều quốn sách mang chỉ dẫn về công tác bảo tồn và phát triển ĐDSH đƣợc xuất bản nhằm cung cấp những kiến thức rộng lớn về bảo tồn và phát triển ĐDSH và rất nhiều công ƣớc Quốc tế đã đƣợc nhiều Quốc gia tham gia thực hiện. - Với tốc độ phát triển kinh tế xã hội và áp lực gia tăng dân số ngày càng tăng, cùng với việc sử dụng không hợp lý và sự quản lý yếu kếm của tài nguyên rừng, sự suy thoái, mất mát về ĐDSH hiện nay là đáng lo ngại mà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 nguyên nhân chủ yếu là do con ngƣời khai thác và sử dụng thiên nhiên không hợp lý đã làm cho nhiều loài đứng trƣớc nguy cơ bị tiêu diệt hoặc biến mất. - Để bảo tồn ĐDSH nói chung và bảo tồn loài nói riêng theo hƣớng phát triển bền vững, những năm gần đây ở mỗi nƣớc, mỗi khu vực đều tìm tòi, thử nghiệm và lựa chọn cho mình một chiến lƣợc và chính sách quản lý tài nguyên hợp lý, tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế - chính trị - xã hội, điều kiện tự nhiên và tập quán canh tác của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia mà hình thành lên một hệ thống quản lý tài nguyên khác nhau.