Tổng quan nghiên cứu
Khánh thành và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 09 năm 1995 nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Quốc khánh, Bảo tàng Ninh Bình là thiết chế văn hóa quan trọng trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình. Trải qua quá trình hình thành và phát triển, bảo tàng hiện đang lưu giữ, bảo quản và phát huy giá trị của 24.807 tài liệu, hiện vật và hình ảnh phản ánh toàn diện tiến trình lịch sử, tự nhiên và văn hóa đặc sắc của vùng đất Cố đô. Tuy nhiên, trước bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự bùng nổ của ngành du lịch địa phương với hàng triệu lượt du khách mỗi năm, công tác quản lý và tổ chức hoạt động của bảo tàng đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Không gian trưng bày nội thất chỉ vỏn vẹn khoảng 500 m² trên tổng diện tích khuôn viên 1.200 m², hệ thống cơ sở vật chất chưa đồng bộ, kinh phí hoạt động phụ thuộc 100% vào nguồn ngân sách nhà nước cấp phát theo biên chế khiến bảo tàng chưa phát huy được tiềm năng vốn có và thiếu sức hút đối với công chúng.
Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá một cách toàn diện, có hệ thống thực trạng công tác quản lý hoạt động tại Bảo tàng Ninh Bình trên các phương diện: quản lý chuyên môn nghiệp vụ, nhân sự, tài chính, cơ sở vật chất và công tác thanh tra kiểm tra. Trên cơ sở nhận diện những kết quả đạt được cùng các rào cản hạn chế, luận văn xây dựng hệ thống giải pháp mang tính chiến lược và khả thi nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị thiết chế văn hóa này. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại Bảo tàng Ninh Bình với khung thời gian khảo sát thực tiễn kéo dài từ năm 2001 đến nay. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc, đóng góp vào việc cải thiện chỉ số tiếp cận di sản của công chúng, gia tăng tối thiểu từ 30% đến 50% lượt khách tham quan và nâng cao năng lực tự chủ cho hệ thống bảo tàng cấp tỉnh tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết quản trị tổ chức hiện đại kết hợp chặt chẽ với lý thuyết Bảo tàng học đương đại (New Museology) nhằm tiếp cận đối tượng nghiên cứu một cách đa chiều. Theo lý thuyết quản lý, quản lý hoạt động bảo tàng được định nghĩa là sự tác động có chủ đích, mang tính thể chế và khoa học của chủ thể quản lý lên toàn bộ các nguồn lực (con người, tài chính, cơ sở vật chất và thông tin) nhằm đạt được mục tiêu bảo tồn di sản và phục vụ công chúng với hiệu suất cao nhất. Tiếp cận theo góc độ bảo tàng học hiện đại, bảo tàng không chỉ thuần túy là kho lưu trữ hiện vật tĩnh mà là một không gian giáo dục mở, lấy khách tham quan làm trung tâm.
Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm nền tảng:
- Di sản văn hóa: Căn cứ Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, là tài sản vô giá kết tinh bản sắc dân tộc.
- Thiết chế bảo tàng địa phương: Là đơn vị sự nghiệp văn hóa tổng hợp hạng III, thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày và tuyên truyền giáo dục di sản tại địa phương.
- Quản lý bảo tàng: Được phân tích theo nghĩa rộng (tác động bằng thể chế để bảo vệ và phát huy di sản) và nghĩa hẹp (quy trình chăm sóc, bảo quản hiện vật và khai thác phục vụ giáo dục).
- Xã hội hóa hoạt động văn hóa: Cơ chế huy động sự tham gia đóng góp của các tổ chức, cá nhân và cộng đồng nhằm đa dạng hóa nguồn lực phát triển bảo tàng.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp khảo sát toàn diện đối với toàn bộ cỡ mẫu gồm 23 cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc tại Bảo tàng Ninh Bình (bao gồm 3 thành viên Ban Giám đốc, 13 cán bộ biên chế, 3 nhân viên hợp đồng theo Nghị định 68/CP và 4 cán bộ hợp đồng dài hạn). Đồng thời, phương pháp chọn mẫu khảo sát thực địa được triển khai trên 100% kho cơ sở lưu giữ 24.807 hiện vật cùng 3 không gian trưng bày chuyên đề nội thất và 1 khu vực trưng bày hiện vật thể khối lớn ngoài trời.
Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Thông tư số 18/2010/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Quyết định số 01/QĐ-BT năm 2016 của Bảo tàng Ninh Bình, các báo cáo tổng kết giai đoạn từ năm 2001 đến nay, cùng các công trình nghiên cứu chuyên ngành của các chuyên gia văn hóa. Nghiên cứu lựa chọn phối hợp phương pháp thống kê - phân loại và phương pháp phân tích - tổng hợp liên ngành (Khoa học quản lý, Bảo tàng học, Văn hóa học). Việc lựa chọn phương pháp này xuất phát từ bản chất đặc thù của bảo tàng, đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy quản trị hành chính công và các quy chuẩn nghiệp vụ bảo tồn di sản nghiêm ngặt, từ đó đưa ra những kết luận khách quan, xác thực.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình khảo sát và phân tích dữ liệu thực tế tại Bảo tàng Ninh Bình đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:
-
Thứ nhất, về cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực: Bộ máy quản lý gồm Ban Giám đốc (3 người) và 3 phòng chức năng (Phòng Hành chính - Quản trị, Phòng Nghiên cứu - Sưu tầm - Kiểm kê - Bảo quản, Phòng Trưng bày - Tuyên truyền). Mặc dù đội ngũ gồm 23 nhân sự đã nỗ lực vận hành đơn vị, nhưng tình trạng kiêm nhiệm không đúng chuyên môn còn phổ biến: khoảng 20% nhân sự đào tạo chuyên ngành bảo tồn - bảo tàng phải làm công tác hành chính, cán bộ hành chính kiêm nhiệm thủ quỹ, và 100% cán bộ chưa từng được tham gia các khóa đào tạo chuyên sâu dài hạn có yếu tố quốc tế.
-
Thứ hai, về quản lý nghiệp vụ và hiện vật: Bảo tàng đã sưu tầm và quản lý 24.807 hiện vật, tư liệu, hình ảnh có giá trị văn hóa - lịch sử phong phú qua nhiều thời kỳ. Tuy nhiên, cơ sở vật chất kho bảo quản chỉ gồm 2 phòng kho với điều kiện kỹ thuật hạn chế. Ước tính có khoảng 15% đến 20% hiện vật giá trị vẫn chưa được đăng ký định danh vào hệ thống sổ kiểm kê điện tử; kho bảo quản thiếu trang thiết bị tối thiểu như máy đo nhiệt độ tự động, hệ thống hút ẩm công nghiệp tiêu chuẩn.
-
Thứ ba, về công tác trưng bày và tuyên truyền: Diện tích sàn trưng bày nội thất vỏn vẹn 500 m² chia làm 3 chủ đề lịch sử, còn trưng bày ngoài trời chỉ có duy nhất 1 hiện vật thể khối lớn là máy bay tiêm kích MIG21-F94 (chiều dài 15,76 m, sải cánh 7,5 m, trọng lượng 8.726 kg). Hệ thống thông tin hiện vật thiếu đồng bộ, 100% các bảng chú thích chưa có thuyết minh song ngữ tiếng Anh, chưa ứng dụng công nghệ số và ánh sáng mỹ thuật hiện đại. Ấn phẩm tuyên truyền duy nhất của đơn vị được xuất bản từ năm 1995 và chưa từng được tái bản trong hơn 25 năm qua.
-
Thứ tư, về tài chính và phục vụ công chúng: Nguồn thu từ dịch vụ và vé tham quan đạt mức 0 đồng do duy trì cơ chế mở cửa miễn phí hoàn toàn nhưng lại đóng cửa vào các ngày thứ Bảy, Chủ nhật và dịp nghỉ lễ. Hoạt động trưng bày lưu động trước năm 2016 chỉ đạt tần suất 1 lần/năm (phục vụ Lễ hội Hoa Lư), sau đó từ năm 2017 mới phát triển thêm 5 đợt đưa di sản vào trường học.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên bắt nguồn từ cơ chế quản lý hành chính bao cấp kéo dài, thiếu tính chủ động và chưa có quy chế vận hành toàn diện. Việc phân bổ ngân sách theo định mức biên chế hành chính thay vì dựa trên chỉ số hiệu quả đầu ra (KPI) khiến trên 85% nguồn tài chính cấp phát chỉ đủ chi trả lương và phụ cấp cơ bản, dưới 15% kinh phí còn lại dành cho hoạt động chuyên môn nghiệp vụ và nghiên cứu thực địa. Khi so sánh với các bảo tàng khảo cứu cấp tỉnh cùng hạng tại khu vực Đồng bằng sông Hồng, chỉ số đổi mới không gian trưng bày của Bảo tàng Ninh Bình thấp hơn khoảng 40%, tỷ lệ ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý hiện vật cũng ở mức rất khiêm tốn.
Các dữ liệu nghiên cứu thực trạng nêu trên có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ cơ cấu nguồn thu - chi tài chính giai đoạn 2015-2020 và bảng phân tích ma trận điểm mạnh - điểm yếu (SWOT) về quản trị nhân sự. Điều này làm nổi bật sự mâu thuẫn sâu sắc giữa tiềm năng di sản đồ sộ của địa phương với năng lực vận hành thực tế của thiết chế. Nếu không có bước đột phá về tư duy quản lý và cơ chế xã hội hóa, khoảng cách tụt hậu của bảo tàng so với tốc độ phát triển du lịch của tỉnh Ninh Bình sẽ ngày càng nới rộng.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm đổi mới toàn diện công tác quản trị và phát huy giá trị di sản tại Bảo tàng Ninh Bình, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:
-
Ban hành và chuẩn hóa hệ thống quy chế quản lý nội bộ: Xây dựng hoàn chỉnh bộ 04 văn bản quản trị cốt lõi bao gồm: Nội quy ra vào kho bảo quản hiện vật, Quy chế quản lý và đăng ký hồ sơ hiện vật số hóa, Nội quy phục vụ khách tham quan và Quy chuẩn bảo quản hiện vật phi vật thể tư liệu hóa. Ban Giám đốc bảo tàng chủ trì hoàn thiện và ban hành trong vòng 6 tháng kể từ khi được phê duyệt, hướng tới mục tiêu 100% hoạt động nghiệp vụ được kiểm soát bằng quy trình chuẩn.
-
Tái cơ cấu, bố trí việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Tiến hành rà soát, sắp xếp lại vị trí việc làm cho 23 cán bộ, đảm bảo 100% nhân sự chuyên môn được phân công đúng chuyên ngành đào tạo. Phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao Ninh Bình cùng các trường đại học chuyên ngành tổ chức định kỳ 2 khóa bồi dưỡng nghiệp vụ/năm về bảo tàng học hiện đại, bảo quản hiện vật chuyên sâu và ngoại ngữ giao tiếp cho đội ngũ thuyết minh viên trong giai đoạn 2024–2026.
-
Hiện đại hóa không gian trưng bày và nâng cấp công nghệ bảo quản: Đầu tư lắp đặt hệ thống kiểm soát vi khí hậu tự động (máy hút ẩm, máy đo nhiệt độ cảm biến) cho 2 phòng kho bảo quản 24.807 hiện vật; triển khai chỉnh trang 500 m² sàn trưng bày nội thất kết hợp công nghệ thuyết minh số 3D, mã QR tương tác và phụ đề song ngữ Anh - Việt. Mục tiêu nâng công suất tiếp đón và tăng trưởng lượng khách tham quan thêm tối thiểu 40% trong lộ trình 2 năm tới.
-
Đa dạng hóa nguồn lực tài chính và đẩy mạnh xã hội hóa: Nghiên cứu xây dựng đề án tổ chức dịch vụ văn hóa, quà lưu niệm, xuất bản ấn phẩm du lịch mới và đề xuất cơ chế tự chủ một phần tài chính. Mở rộng tần suất triển lãm lưu động từ 5 đợt lên 10–12 đợt/năm tại các trường học và khu du lịch trọng điểm; duy trì mở cửa đón khách thường xuyên vào 100% các ngày nghỉ cuối tuần và ngày lễ lớn.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cao cho 4 nhóm đối tượng chính:
- Ban Lãnh đạo và cán bộ chuyên môn tại các bảo tàng địa phương: Cung cấp tài liệu tham khảo thiết thực về mô hình tái cấu trúc tổ chức, giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn trong kiểm kê - bảo quản hiện vật và phương thức lập kế hoạch chuyên môn khoa học trong điều kiện ngân sách hạn chế.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Văn hóa và Thể thao, UBND cấp tỉnh): Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và luận cứ quản lý để xây dựng chính sách phân bổ ngân sách, ban hành định mức kinh tế kỹ thuật và hoạch định đề án chuyển đổi số cho các thiết chế văn hóa công lập.
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành: Sử dụng như một case study điển hình, toàn diện về quản lý bảo tàng khảo cứu cấp tỉnh phục vụ học tập, giảng dạy và nghiên cứu mở rộng trong các ngành Quản lý văn hóa, Bảo tàng học và Di sản học.
- Các doanh nghiệp lữ hành và nhà phát triển du lịch di sản: Khai thác thông tin tư liệu về tiềm năng hiện vật, từ đó phối hợp cùng bảo tàng xây dựng các tour du lịch học đường, tour giáo dục truyền thống kết nối các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận văn tiếp cận vấn đề quản trị bảo tàng dựa trên những khung lý thuyết nào?
Nghiên cứu kết hợp lý thuyết quản lý tổ chức hiện đại với trường phái Bảo tàng học mới (New Museology). Cách tiếp cận này giúp xem xét bảo tàng như một hệ thống xã hội mở, nơi các hoạt động nghiệp vụ từ sưu tầm, bảo quản đến trưng bày đều hướng tới việc phục vụ công chúng và thúc đẩy tương tác xã hội. -
Thực trạng quản trị nhân sự tại Bảo tàng Ninh Bình có những hạn chế nổi bật nào?
Khảo sát trên tổng số 23 cán bộ cho thấy có khoảng 20% nhân sự bị bố trí việc làm chưa phù hợp chuyên ngành (như cử nhân bảo tồn làm công việc văn thư), cán bộ hành chính phải kiêm nhiệm thủ quỹ, và toàn bộ đội ngũ thiếu cơ hội tiếp cận các chương trình đào tạo quốc tế chuyên sâu. -
Kho cơ sở lưu giữ 24.807 tài liệu, hiện vật đang đối mặt với thách thức gì?
Thách thức lớn nhất là diện tích kho chật hẹp, thiếu máy hút ẩm và cảm biến nhiệt độ tự động, cùng việc ước tính 15% đến 20% hiện vật chưa được lập hồ sơ định danh số hóa. Điều này làm tăng nguy cơ xuống cấp vật lý của hiện vật dưới tác động của môi trường nhiệt đới ẩm. -
Tại sao hoạt động trưng bày của bảo tàng chưa thu hút được khách du lịch?
Không gian nội thất chỉ rộng 500 m² nhưng trưng bày dàn trải, thiếu điểm nhấn mỹ thuật ánh sáng, 100% bảng chú thích chưa dịch sang tiếng Anh và không gian ngoài trời chỉ có duy nhất 1 hiện vật máy bay MIG21. Ngoài ra, việc đóng cửa vào thứ Bảy, Chủ nhật làm mất đi lượng lớn du khách tiềm năng. -
Giải pháp tài chính nào giúp bảo tàng giảm bớt phụ thuộc vào ngân sách nhà nước?
Luận văn đề xuất phát triển các sản phẩm dịch vụ văn hóa phụ trợ (quầy lưu niệm, trải nghiệm di sản, xuất bản ấn phẩm hướng dẫn), kết hợp mở rộng 10–12 đợt trưng bày lưu động xã hội hóa hàng năm và đề xuất cơ chế tự chủ một phần tài chính để tái đầu tư vào hoạt động nghiệp vụ.
Kết luận
- Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng quản lý tại Bảo tàng Ninh Bình từ năm 2001 đến nay, khẳng định vai trò cầu nối di sản với kho lưu trữ 24.807 hiện vật quý giá.
- Nghiên cứu chỉ rõ 4 rào cản nội tại về bố trí nhân sự kiêm nhiệm, cơ sở vật chất 500 m² chật hẹp, kỹ thuật bảo quản thiếu thốn và nguồn tài chính hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách cấp phát.
- Hệ thống hóa khung giải pháp 4 trụ cột mang tính khả thi cao: chuẩn hóa quy chế pháp lý, tái cơ cấu nhân sự, hiện đại hóa công nghệ trưng bày và đa dạng hóa nguồn thu qua xã hội hóa.
- Đóng góp luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc cho chuyên ngành Quản lý văn hóa, phục vụ đắc lực quá trình đổi mới thiết chế bảo tàng cấp tỉnh tại Việt Nam.
- Lộ trình thực thi được đề xuất triển khai qua hai giai đoạn 2024–2026 (chuẩn hóa quy trình, đào tạo nhân sự) và 2026–2030 (chuyển đổi số toàn diện, tự chủ dịch vụ).
Kính mời các nhà quản lý văn hóa, các chuyên gia học thuật và quý độc giả quan tâm đón đọc toàn văn luận văn thạc sĩ để cùng đóng góp ý kiến, chung tay xây dựng hệ thống bảo tàng Việt Nam ngày càng phát triển hiện đại và giàu bản sắc.