CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH 1. Khái quát về hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh (HQKD) là chỉ tiêu so sánh giữa mục tiêu hoàn thành và nguồn lực được sử dụng một cách hiệu quả (Nguyễn Văn Tạo, 2004). Theo quan điểm này HQKD phải gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả là doanh nghiệp thực hiện được các mục tiêu đặt ra. Về mặt thời gian, hiệu quả kinh doanh đạt được xem xét trong từng giai đoạn, từng thời kỳ nhưng không được làm giảm sút hiệu quả các giai đoạn, các thời kỳ kinh doanh tiếp theo hay được xem xét trong cả ngắn hạn và dài hạn. Về không gian, hiệu quả kinh doanh chỉ có thể coi là đạt được một cách toàn diện khi toàn bộ hoạt động của các bộ phận, các đơn vị mang lại hiệu quả và không ảnh hưởng đến hiệu quả chung của toàn doanh nghiệp. Về định lượng, hiệu quả kinh doanh phải được thể hiện ở mối tương quan giữa chi phí và kết quả theo những mục tiêu nhất định.
Nói đến mục tiêu người ta luôn đề cập đến các chỉ số cụ thể về số lượng, chất lượng, thời gian và nguồn lực. Hiệu quả kinh doanh là một vấn đề được các nhà kinh tế và quản lý kinh tế rất quan tâm. Mọi hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều hướng tới mục tiêu hiệu quả. Các doanh nghiệp đều có mục đích chung là làm thế nào để một đồng vốn bỏ vào kinh doanh mang lại hiệu quả cao nhất, khả năng sinh lời nhiều nhất.
Bản chất của hiệu quả kinh doanh Bản chất của HQKD là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực kinh doanh để đạt được mục tiêu bao trùm và lâu dài của mọi doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Trình độ sử dụng nguồn lực kinh doanh càng cao chứng tỏ các doanh nghiệp càng có khả năng tạo ra TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc kết quả tăng với tốc độ lớn hơn tốc độ tăng của chi phí sử dụng các nguồn lực kinh doanh. Việc đánh giá HQKD giúp doanh nghiệp nhận biết được mức độ sử dụng các nguồn lực đầu vào, đồng thời phân tích tìm ra nguyên nhân để đưa ra các biện pháp thích hợp nhằm nâng cao HQKD. Như vậy, thông qua HQKD ta có thể đánh giá được mục tiêu của doanh nghiệp đạt được đến đâu.
Trong nhiều trường hợp người ta sử dụng chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt được và trong nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết khả năng tiến đến mục tiêu cần đạt. Như vậy HQKD vừa là mục tiêu vừa là phương tiện của kinh doanh. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả kinh doanh Đối với nền kinh tế quốc dân, việc các doanh nghiệp nâng cao HQKD có ý nghĩa hết sức quan trọng vì nó góp phần phân bổ nguồn lực quốc gia một cách hợp lý, tránh lãng phí trong khi các nguồn lực xã hội là có hạn. Đối với doanh nghiệp, HQKD là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển.Trong nền kinh tế thị trường luôn biến động, các doanh nghiệp phải chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ cạnh tranh về mọi mặt: giá cả, chất lượng, thị trường, khách hàng…muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh chóng nắm bắt được tình hình kinh doanh, HQKD của chính doanh nghiệp mình để có biện pháp nâng cao năng lực quản trị, điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tăng cường và cải thiện mọi hoạt động bên trong doanh nghiệp giúp doanh nghiệp thích ứng với những biến động của thị trường.
Đối với người lao động, HQKD cũng có ý nghĩa to lớn vì một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ có điều kiện tốt để chăm lo cho người lao động về các mặt như: chế độ lương, thưởng thỏa đáng, điều kiện làm việc tốt, các chính sách cho người lao động phù hợp…góp phần tạo động lực làm việc và cống hiến cho người lao động. Như vậy, để đạt được HQKD và nâng cao HQKD luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu và trở thành vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm về phân tích hoạt động kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là đi sâu nghiên cứu quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của quản lý kinh doanh, căn cứ vào các tài liệu thống kê và các thông tin kinh tế khác, bằng những phương pháp nghiên cứu thích hợp, phân giải mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế nhằm làm rõ bản chất của hoạt động kinh doanh, nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp (Phạm Văn Được - Lê Thị Minh Tuyết- Huỳnh Đức Lộng, 2009).
Ý nghĩa phân tích hoạt động kinh doanh - Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và còn là công cụ để cải tiến quản lý trong kinh doanh. - Phân tích hoạt động và hiệu quả kinh doanh là cơ sở quan trọng để ra các quyết định kinh doanh. - Phân tích kinh doanh còn là biện pháp quan trọng để ngăn ngừa rủi ro trong kinh doanh, trên cơ sở kết quả phân tích, doanh nghiệp dự đoán các rủi ro trong kinh doanh có thể xảy ra và các phương pháp phòng ngừa phù hợp trước khi chúng xảy ra. (Phạm Văn Được – Lê Thị Minh Tuyết- Huỳnh Đức Lộng, 2009) Ngoài ra, đối với một bộ phận các đối tượng bên ngoài là những người không trực tiếp điều hành nhưng họ có mối quan hệ về quyền lợi với doanh nghiệp, thông qua tài liệu và kết quả phân tích giúp họ có những quyết định đúng đắn trong việc hợp tác, đầu tư, hay cung cấp các mức hạn mức tín dụng… Phương pháp thường được sử dụng phổ biến trong phân tích đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu dựa trên các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp.
Dù mục tiêu tài chính là đích đến cuối cùng của đại bộ phận các tổ chức trên thế giới nhưng việc phụ thuộc gần như duy nhất vào những thước đo tài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 chính trong thời đại công nghiệp đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết không thể khắc phục khi đánh giá thành quả hoạt động của các tổ chức trong thời đại thông tin. Thứ nhất, thước đo tài chính truyền thống không cung cấp đầy đủ các thông tin để đánh giá thành quả hoạt động. Các báo cáo tài chính hiện nay vẫn cung cấp các thông tin tài chính mà không cung cấp đầy đủ thông tin phi tài chính như tài sản vô hình đặc biệt là các tài sản vô hình thuộc về trí tuệ của tổ chức và năng lực của tổ chức vì không đưa ra được giá trị đáng tin cậy. Thêm nữa, các thước đo tài chính chỉ đưa ra các kết quả trong quá khứ mà thường thiếu đi sức mạnh dự báo và các thước đo tài chính thường được sử dụng để đánh giá thành quả của các nhà quản lý cấp cao, không thể sử dụng để đánh giá thành quả hoạt động của nhân viên cấp thấp hơn.
Thứ hai, hy sinh lợi ích trong dài hạn để đạt được các mục tiêu ngắn hạn. Các hoạt động tạo ra giá trị dài hạn trong tổ chức có thể bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu tài chính ngắn hạn như tối thiểu hóa chi phí bằng cách cắt giảm lao động. Điều này sẽ dẫn đến một sự thu hẹp về qui mô. Thứ ba, việc hạch toán kế toán có thể bị bóp méo để phục vụ những mục đích tài chính trong ngắn hạn.
Nhiều tổ chức lợi dụng tài khoản chờ phân bổ chi phí để tăng lợi nhuận, khai khống doanh thu và gian lận trong các khoản phải thu để đạt mức tăng trưởng mong muốn trong báo cáo. Vì việc đánh giá thành quả hoạt động của tổ chức chỉ dựa vào các kết quả tài chính thể hiện trên các báo cáo tài chính nên tình trạng các chỉ số tài chính bị “chế biến” theo mục đích của người đứng đầu tổ chức thường xuyên xảy ra. Thông tin cung cấp cho bên ngoài không còn khách quan và hoàn toàn khác so với thông tin nội bộ của tổ chức. Để đáp ứng yêu cầu về hệ thống đánh giá thành quả hoạt động trong thời đại công nghệ thông tin và khắc phục những nhược điểm của hệ thống đo lường trong thời đại công nghiệp, công cụ đo lường thành quả hoạt động của kế toán quản trị đó là BSC đã ra đời.
Sử dụng thẻ điểm cân bằng để phân tích đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua 4 khía cạnh: tài chính, khách hàng, quy trình TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 hoạt động nội bộ, học hỏi phát triển, sẽ mang lại một cái nhìn cân bằng hơn về toàn bộ hoạt động của tổ chức và có thể đánh giá một cách toàn diện mức độ hoàn thành và hiệu quả của các mục tiêu đề ra. Lý thuyết và nội dung về mô hình Thẻ điểm cân bằng 1. Khái quát về Thẻ điểm cân bằng Các hệ thống báo cáo tài chính truyền thống cung cấp thông tin cho thấy kết quả hoạt động của một công ty trong quá khứ, nhưng hầu như không thể cung cấp thông tin về kết quả hoạt động trong tương lai. Để giải quyết vấn đề này, Robert Kaplan thuộc trường Kinh doanh Havard và David Norton đã nghiên cứu một công cụ nhằm đề cao các thước đo về hiệu suất, về các vấn đề liên quan đến khách hàng, quy trình nghiệp vụ nội bộ, hoạt động của nhân viên, mối quan tâm của cổ đông.
Đến năm 1992, Kaplan và Norton đặt tên cho công cụ này là Thẻ điểm cân bằng (BSC) và đã tổng kết nghiên cứu này trên tạp chí Harvard Business Review (Robert S. Kaplan and David P. Phương pháp này được áp dụng hữu hiệu ở nhiều tập đoàn, công ty trên thế giới như Dupnont, General Electric, IBM… Đồng thời một số phầm mềm quản trị cũng áp dụng nó để thiết lập nên hệ thống theo dõi, đánh giá hoạt động doanh nghiệp như SAS ở Mỹ, High Performance System Inc,…Thẻ cân bằng điểm - BSC đánh giá hoạt động của một tổ chức, một bộ phận thông qua một hệ cân bằng 4 yếu tố: tài chính, khách hàng, những chu trình kinh doanh nội bộ, khía cạnh đào tạo và phát triển.