Chương 1: Những vấn đề cơ bản về mô hình thương mại điện tử Chương 2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của mô hình thương mại điện tử Lazada ởViệt Nam. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh cho mô hình thương mại điện tử Lazada ở Việt Nam. Luan van 4 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔ HÌNH THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Tổng quan về Thƣơng mại điện tử 1.
Khái niệm Thƣơng mại điện tử Thương mại điện tử là khái niệm chỉ một lĩnh vực hoạt động thương mại có những đặc điểm khác so với thương mại truyền thống, xuất hiện cùng với sự phát triển của CNTT, cũng như mức độ phủ cập internet tới người dân. Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về Thương mại điện tử (TMĐT) như: Theo báo cáo về đồi thoại của các doanh nghiệp vùng Đại Tây Dương về TMĐT năm 1997 định nghĩa: "Thương mại điện tử, định nghĩa một cách đơn giản, là việc thực hiện các giao dịch dịch vụ thương mại dưới hình thức điện tử". Mặt khác, tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc tháng 12/1996 Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật thương mại quồc tế (UNCITRAL) đã thông qua Luật mẫu về Thương mại điện tử với định nghĩa về TMĐT:" Thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử, mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào cùa toàn bộ quá trình giao dịch”. Thông qua các định nghĩa này có thể nhận thấy, TMĐT được nghĩa khác nhau dựa trên phạm vi rộng hẹp khác nhau: 1.
Theo nghĩa hẹp Theo nghĩa hẹp, TMĐT chỉ bó hẹp trong việc mua bán hàng hóa dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử. Cụ thể như theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) định nghĩa trong tài liệu "Thương mại điện tử và vai trò của WTO" năm 1998 đã định nghĩa "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cà các sản phẩm được giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet". Với định nghĩa này, TMĐT chỉ bao gồm các hoạt động thương mại thực hiện thông qua mạng internet mà không tính đến các phương tiện điện tử khác như điện Luan van 5 thoại, telex…Tuy nhiên cũng có thể thấy, TMĐT đã làm thay đổi cơ bản cách thức mua sắm truyền thống. Theo nghĩa rộng Thương mại điện tử có thể hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ chu trình và các hoạt động kinh doanh liên quan đến tổ chức hay cá nhân khi họ thực hiện các giao dịch tài chính và thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển tiền điện tử và các hoạt động nhu gửi/ rút tiền bằng thẻ tín dụng.
Với cách hiểu này, định nghĩa trong Luật mẫu về Thương mại điện tử của Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật thương mại quồc tế (UNCITRAL) thể hiện rõ ràng nhất, nêu rõ:" Thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử, mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào cùa toàn bộ quá trình giao dịch”. Trong định nghĩa này, “thông tin” được hiểu là toàn bộ những gì có thể truyền tải bằng kỹ thuật điện tử như thư từ, file dữ liệu văn bản, cơ sở dữ liệu, bảng tính, thiết kế…“Thƣơng mại” hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ các quan hệ mang tính thương mại dù có hay không việc phát sinh các hợp đồng. Các quan hệ thương mại này bao gồm, nhưng không giới hạn, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng công trình; tư vấn kỹ thuật công trình…Với định nghĩa này, TMĐT có phạm vi rất rộng, bao quát gần như toàn bộ các lĩnh vực kinh tế mà trong đó hoạt động mua bán hàng hóa chỉ là một phần rất nhỏ trong TMĐT. Tóm lại, theo nghĩa hẹp, TMĐT được định nghĩa là hoạt động thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng internet; TMĐT theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động thương mại và các hoạt động liên quan được thực hiện một phần hay hoàn toàn thông qua các phương tiện điện tử và Internet.
Các đặc điểm của Thƣơng mại điện tử Tham gia TMĐT không đòi hỏi các bên phải tiếp xúc trực tiếp Đối với giao dịch thương mại truyền thống, các bên tham gia thường gặp gỡ trực tiếp trong các cuộc đàm phán. Các giao dịch được thực hiện bằng các phương Luan van 6 thức đơn giản như chuyển tiền mặt, séc, vận đơn, báo cáo…Các phương tiện như fax, telex…chỉ được sử dụng chuyển số liệu, hợp đồng và giữa các đối tác trực tiếp của cùng một giao dịch này. Với TMĐT lại có sự khác biệt, các bên không nhất thiết phải tiếp xúc trực tiếp hay có quan hệ gặp gỡ với nhau từ trước. Sự khác biệt này xuất phát từ việc TMĐT sử dụng phương thức truyền số liệu điện tử để xử lý và thực hiện quá trình kinh doanh.
Thông qua Internet, các đối tác dù có khoảng cách địa lý ở cách xa nhau hoặc hoàn toàn chưa gặp nhau vẫn có thể thực hiện giao dịch. Đối tượng tham gia vào các giao dịch thương mại cũng đa dạng hơn, không chỉ giữa các doanh nghiệp với doanh nghiệp mà còn bao gồm cá nhân với doanh nghiệp, cá nhân với cá nhân… Giao dịch TMĐT không sử dụng giấy tờ (Paperless transactions) TMĐT không sử dụng văn bản giấy tờ. Các văn bản dữ liệu đều được số hóa thành các file dữ liệu. Đặc điểm này làm thay đổi căn bản văn hóa giao dịch và ở khía cạnh nào đó các giao dịch được dựa trên độ tin cậy giữa các đối tác.
Việc không sử dụng giấy tờ cũng giúp giảm đáng kể các chi phí, nhân lực để chuyển phát, lưu trữ cũng như tìm kiếm văn bản khi cần thiết. Nhiều doanh nghiệp hiện nay đã lưu trữ các tài liệu lên ngân hàng dữ liệu để dễ dàng hơn cho việc tra cứu, trích xuất các số liệu kinh doanh. Tuy nhiên, chính vì việc không sử dụng giấy tờ nên việc cần đảm bảo an ninh an toàn dữ liệu cũng sẽ là bài toán đối với các doanh nghiệp khi ứng dụng giao dịch TMĐT. TMĐT phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cũng nhƣ trình độ của ngƣời sử dụng Như đã trình bày, TMĐT là việc kinh doanh bằng các phương tiện điện tử và chịu nhiều ảnh hưởng của sự thay đổi công nghệ.
Chính vì vậy, hạ tầng về công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc ứng dụng TMĐT trong doanh nghiệp như hệ thống máy chủ lưu trữ, hệ thống máy tính, khả năng kết nối mạng… Luan van 7 Ngoài ra, TMĐT cũng cần đội ngũ nhân sự không chỉ thành thạo, hiểu về công nghệ mà cần có kiến thức vững vàng về quản trị kinh doanh nói chung, TMĐT nói riêng. TMĐT phụ thuộc vào mức độ số hóa (Thƣơng mại số hóa) TMĐT có thể đạt được từ cấp độ thấp như sử dụng thư điện tử đến sử dụng Intemet để tìm kiếm thông tin, đặt hàng trực tuyến, xây dựng các vvebsite cho hoạt động kinh doanh hay áp dụng các giải pháp toàn diện về thương mại điện tử tùy thuộc vào mức độ số hóa của nền kinh tế. TMĐT có tốc độ nhanh TMĐT là phương thức giao dịch có tốc độ nhanh nhất trong các phương thức giao dịch thương mại hiện nay. Việc các bước của quá trình giao dịch đều được tiến hành thông qua mạng máy tính, các phần mềm ứng dụng ngày một hoàn thiện cũng như tốc độ đường truyền internet ngày càng cải thiện cho phép rút ngăn thời gian soạn thảo, giao tiếp và ký kết các văn bản giao dịch điện tử.
Lợi ích và các vấn đề rủi ro trong Thƣơng mại điện tử 1. Lợi ích của Thương mại điện tử Với những đặc điểm ở trên, TMĐT có nhiều điểm ưu việt hơn so với Thương mại truyền thống và mang lại nhiều lợi ích cho các chủ thể tham gia vào hoạt động TMĐT. Đối với doanh nghiệp: TMĐT (đặc biệt là Internet) cho phép các tổ chức nắm bắt tốt hơn thông tin về thị trường để lựa chọn chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp với xu thế phát triển chung của thị trường trong nước cũng như quốc tế. Nói cách khác, TMĐT giúp doanh nghiệp tiếp cận với thị trường toàn cầu, giúp thế giới “phẳng” hơn.
Chỉ với việc đầu tư ban đầu cho cơ sở hạ tầng mạng, doanh nghiệp đã có thể tiếp cận được nhiều khách hàng, lựa chọn các nhà cung cấp cũng như xác định được các đối tác kinh doanh phù hợp nhất. TMĐT giúp doanh nghiệp tiết kiệm các chi phí, đẩy nhanh tốc giao dịch và tăng lợi nhuận. Bằng việc trao đổi thông tin và giao dịch thông qua các phương tiện điện tử, TMĐT cho phép giảm thiếu các phí giấy tờ, in ấn, truyền thông…cũng như nhân sự thực hiện công tác chuyển phát giấy tờ. TMĐT cũng giúp giảm thời gian, Luan van 8 chi phí đi lại, trao đổi so với thương mại truyền thống bởi các đối tác có thể đàm phán mà không cần gặp gỡ trực tiếp.
TMĐT góp phần cải thiện hình ảnh của doanh nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng cũng như tiếp cận khách hàng dễ dàng hơn. Thông qua nền tảng số hóa, doanh nghiệp có thể tạo ra website, catalogue điện tử, gian hàng online để giới thiệu sản phẩm đến khách hàng của mình một cách nhanh chóng và tiết kiệm tới hàng triệu khách hàng. Ngoài ra, những công ty thương mại điện tử lớn còn có hệ thống quản lý kho hàng tốt, liên kết giữa gian hàng online và số liệu hàng trong kho thực tế giúp doanh nghiệp phân tích được xu hướng mua hàng của khách hàng, từ đó có chiến lược cho từng sản phẩm, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. TMĐT kích thích sự sáng tao, tạo điều kiện cho những dự án kinh doanh mới đạt thành công nhờ thay đổi được quy trình kinh doanh, tối ưu được bộ máy nhân sự và tiết kiệm chi phí.
Nhiều doanh nghiệp công nghệ khởi điểm chỉ với 2- 5 người cũng mang lợi lợi nhuận khổng lồ. Đối với người tiêu dùng TMĐT trước hết mang lại cho khách hàng nhiều sự lựa chọn và tiết kiệm hơn.