đặt vấn đề và nghiên cứu về chiến lƣợc. BSC chuyển chiến lƣợc và tầm nhìn thành một loạt các phép đo có liên kết chặt chẽ với nhau. Qua đó, doanh nghiệp có nhiều thông tin hơn so với các thông tin trình bày trong báo cáo tài chính. Khi xem xét toàn bộ các mối liên hệ mật thiết, kết quả của việc đo lƣờng hiệu quả của thẻ điểm mô tả rõ ràng chiến lƣợc đến từng chi tiết nhỏ và tạo cơ sở cho việc đặt câu hỏi liệu kết quả thu đƣợc liệu có đƣa doanh nghiệp tới gần việc đạt đƣợc chiến lƣợc hay không và khi có bất cứ biến động gì, doanh nghiệp biết ngay ảnh hƣởng của nó ở đâu, cách khắc phục.
- Công cụ trao đổi thông tin: Trao đổi thông tin ở đây bao gồm hai chiều: từ phía nhà quản lý tới ngƣời lao động và ngƣợc lại. Chia sẻ kết quả của BSC trong tổ chức giúp ngƣời lao động có cơ hội thảo luận về những giả định trong chiến lƣợc, học hỏi và rút kinh nghiệm từ những kết quả không mong muốn, trao đổi về những thay đổi cần thiết trong tƣơng lai. Hiểu chiến lƣợc của doanh nghiệp có thể mở ra những khả năng tiềm tàng, có thể lần đầu tiên đƣợc biết tổ chức đang ở đâu và họ sẽ 7 đóng góp nhƣ thế nào. Chỉ số đo lƣờng cốt lõi (KPI): Các chỉ số KPI -Key Performance Indicator ra đời nhằm tạo ra sự liên kết giữa mô hình BSC với thực tế của việc áp dụng đo lƣờng hiệu suất của một doanh nghiệp (David Paramenter, 2009).1 Khái niệm về KPI Chỉ số đo lƣờng cốt lõi (hay còn gọi là Chỉ số đo lƣờng hiệu suất - KPI) là chỉ số dùng trong quản trị để đo lƣờng, báo cáo và cải thiện hiệu suất thực hiện công việc (David Paramenter, 2009).2 Phân loại các chỉ số đo lƣờng hiệu suất v phân biệt với KPI: Theo David Paramenter (2009), có ba loại chỉ số đo lƣờng hiệu suất thiết yếu nhƣ sau: Chỉ số kết quả chính (KRI) cho biết doanh nghiệp đã làm đƣợc gì với một chỉ tiêu (KRI – Key Results Indicator); Chỉ số hiệu suất (PI) cho biết bạn cần phải làm gì (PI - Peformance Indecator); Chỉ số hiệu suất cốt yếu (KPI) cho biết phải làm gì để làm tăng hiệu suất lên một cách đáng kể (KPI- Key Performance Indicator).1 Chỉ số kết quả chính (KRI) Là kết quả đạt đƣợc của nhiều hoạt động và cho thấy công ty đang đi đúng hƣớng hay không.
Chỉ số kết quả cốt yếu cung cấp thông tin kết quả tại một thời điểm và thƣờng đƣợc định kỳ theo dõi hàng tháng hoặc hàng quý. Các chỉ số này có đặc điểm chung là chúng là kết quả của nhiều hoạt động và cần nhiều thời gian để theo dõi, cho tổ chức thấy rõ là có đang đi đúng hƣớng hay không. Tuy nhiên, các chỉ số này không cho tổ chức thấy đƣợc cần phải làm gì để cải thiện kết quả đạt đƣợc. (David Paramenter, 2009) Một số chỉ số kết quả thiết yếu gồm có: Lợi nhuận thu đƣợc từ khách hàng; Lợi nhuận ròng từ những sản phẩm chủ chốt; Sự gia tăng doanh số; Số nhân viên tham gia vào kế hoạch, lợi nhuận ròng trƣớc thuế; lợi nhuận thu đƣợc từ số vốn đã sử dụng … 1.2 Chỉ số hiệu suất (PI) Chỉ số đo lƣờng hiệu suất là chỉ số dùng trong quản trị để đo lƣờng, báo cáo 8 và cải thiện hiệu suất thực hiện công việc.
Chỉ số hiệu suất cho biết bạn cần phải làm gì, và là một tập hợp các chỉ số đo lƣờng hƣớng vào các phƣơng diện hoạt động của tổ chức. (David Paramenter, 2009) Trong quá trình kết hợp với mô hình BSC, các chỉ số hiệu suất cũng chia theo bốn phƣơng diện chính: Các chỉ số hiệu suất trên phƣơng diện tài chính; các chỉ số hiệu suất trên phƣơng diện khách hàng; các chỉ số hiệu suất trên phƣơng diện nội bộ; và Các chỉ số hiệu suất trên phƣơng diện đào tạo và phát triển.3 Chỉ số hiệu suất cốt yếu- KPI: KPI là những chỉ số nhằm đo lƣờng hiệu quả hay sự thành công của các hoạt động trong tổ chức, nhằm đạt đƣợc mục tiêu mà nhà quản trị đƣa ra. Mỗi một chức danh, phòng, ban, bộ phận sẽ có bản mô tả công việc hoặc kế hoạch làm việc hàng tháng. Các nhà quản trị sẽ áp dụng các chỉ số đánh giá hiệu quả các hoạt động đó.
Mỗi chức danh, phòng, ban lại có những chỉ số KPI riêng, tuy nhiên, các chỉ số KPI, theo David Paramenter (2009), là các chỉ số hiệu suất mang các đặc điểm sau: đáp ứng đƣợc 5 tiêu chuẩn của một mục tiêu (SMART); là các chỉ số phi tài chính; Đƣợc đánh giá thƣờng xuyên; Chịu tác động bởi ban điều hành và đội ngũ quản trị cấp cao; Đòi hỏi nhân viên phải hiểu chỉ số và có hành động điều chỉnh; Gắn trách nhiệm cho từng cá nhân và từng nhóm; Có tác động đáng kể đến các phƣơng diện của thẻ điểm.4 Ứng dụng KPI, BSC v o phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh Về cơ bản, khi vận dụng mô hình BSC, các chỉ số KPI cũng đƣợc thiết lập và xoay quanh bốn phƣơng diện của thẻ điểm cân bằng. Do đó, tác giả tạm thời chia thành bốn nhóm KPI chính: 1.1 Nhóm chỉ số đo lƣờng phƣơng diện t i chính Các chỉ số hiệu quả tài chính xác định các mục tiêu dài hạn của một đơn vị kinh doanh (một doanh nghiệp hoặc một công ty thành viên trong nhóm công ty). Mặc dù các mục tiêu lợi nhuận đƣợc sử dụng phổ biến hơn, các mục tiêu tài chính khác hoàn toàn có thể đƣợc sử dụng. Tùy theo giai đoạn phát triển trong chu kỳ sống hoặc tình trạng kinh doanh, doanh nghiệp có thể tập trung vào mục tiêu tăng 9 trƣởng nhanh, dòng tiền.
Kaplan và Norton (2017) gợi ý ba giai đoạn của chiến lƣợc kinh doanh: - Tăng trƣởng: gắn với giai đoạn đầu của chu kỳ sống của sản phẩm thƣờng có nhu cầu đầu tƣ nhiều hơn và mang tính dài hạn. - Duy trì (ổn định): Gắn với giai đoạn bão hòa của chu kỳ sống sản phẩm. Trong giai đoạn này doanh nghiệp vẫn cần đầu tƣ và tái đầu tƣ nhƣng đòi hỏi tỷ suất hoàn vốn cao hơn, đồng thời tập trung vào duy trì thị phần hiện tại. - Thu hoạch: Gắn với giai đoạn chín muồi của chu kỳ sống sản phẩm.
Trong giai đoạn này doanh nghiệp chỉ đầu tƣ để duy trì năng lực hiện tại, không mở rộng hoạt động kinh doanh và hƣớng tới mục tiêu thu hồi vốn nhanh các khoản đầu tƣ. Đối với mỗi chiến lƣợc trong ba giai đoạn tăng trƣởng, duy trì và thu hoạch thì có ba chủ đề tài chính thúc đẩy chiến lƣợc kinh doanh, cụ thể là: - Tăng trƣởng doanh thu - Giảm chi phí và cải thiện năng suất - Sử dụng tài sản và chiến lƣợc đầu tƣ Trong mỗi giai đoạn, chiến lƣợc, doanh nghiệp có thể tập trung vào một hoặc kết hợp các chủ đề tài chính khác nhau. Bảng minh họa dƣới đây minh họa sự kết hợp giữa chiến lƣợc kinh doanh và các chủ đề tài chính với các chỉ tiêu cụ thể.1: Một số chỉ tiêu đo lƣờng chủ yếu trong phƣơng diện t i chính (R.Norton, 2017) Chiến Chủ đề chiến lƣợc lƣợc của đơn vị Tăng trƣởng doanh thu Cắt giảm chi phí/cải Sử dụng t i sản kinh v tập hợp sản phẩm thiện năng suất doanh - Tỷ lệ tăng trƣởng doanh Doanh thu/Nhân viên - Đầu tƣ (tỷ lệ phần Tăng số bán hàng theo phân khúc trăm so với doanh trƣởng - Tỷ lệ phần trăm doanh thu thu hàng bán) có đƣợc từ sản phẩm , dịch - Nghiên cứu và phát 10 Chiến Chủ đề chiến lƣợc lƣợc của đơn vị Tăng trƣởng doanh thu Cắt giảm chi phí/cải Sử dụng t i sản kinh v tập hợp sản phẩm thiện năng suất doanh vụ và khách hàng mới triển (tỷ lệ phần trăm so với doanh thu hàng bán) - Thị phần khách hàng mục - Chi phí so với chi - Các tỷ lệ vốn lƣu tiêu phí của đối thủ cạnh động (chu trình tiền - Bán chéo sản phẩm tranh mặt) - Tỷ lệ doanh thu từ các - Tỷ lệ giảm chi phí - ROCE xét theo các Duy trì ứng dụng mới - Những chi phí gián loại tài sản tài chính - Khả năng sinh lợi của tiếp (tỷ lệ so với - Tỷ lệ sử dụng tài khách hàng và dòng sản doanh số bán hàng) sản phẩm mới - Khả năng sinh lợi của Các chi phí đơn vị - Thu hồi vốn khách hàng và dòng sản (trên từng đơn vị đầu - Số lƣợng vật liệu Thu phẩm ra, từng giao dịch) đầu vào hoạch - Tỷ lệ khách hàng không mang lại lợi nhuận 1.2 Nhóm chỉ số đo lƣờng phƣơng diện khách h ng: Để đo lƣờng các đại lƣợng trong phƣơng diện khách hàng, theo R.Norton (2017), nhóm thƣớc đo trọng tâm cho kết quả khách hàng là chung nhất đối với tất cả các loại hình tổ chức, bao gồm các thƣớc đo là: Thị phần, giữ chân khách hàng, thu hút khách hàng mới, làm hài lòng khách hàng và khả năng sinh lợi từ khách hàng. Có thể nhóm lại các thƣớc đo này theo mối quan hệ nhân quả nhƣ sau: 11 Bảng 1.2: Mối quan hệ nhân quả của các thƣớc đo trong phƣơng diện khách hàng (R.Norton (2017) Thị phần Khả năng sinh Thu hút khách Giữ chân lời từ khách hàng khách hàng hàng Thõa mãn khách hàng Phản ánh "miếng bánh kinh doanh" trên một thị trƣờng sẵn có (xét trên các phƣơng diện nhƣ: số lƣợng khách hàng, tiền chi phí bằng Thị phần đô la hoặc số sản phẩm bán đƣợc) mà một đơn vị kinh doanh phục vụ.
Đo lƣờng, một cách tuyệt đối hoặc tƣơng đối, tỷ lệ mà đơn vị kinh Thu hút khách doanh thu hút/giành đƣợc những khách hàng mới hay các công hàng việc kinh doanh mới. Theo dõi một cách tuyệt đối hay tƣơng đối tỷ lệ mà một đơn vị Giữ chân kinh doanh giữa chân hoặc duy trì đƣợc mối quan hệ hiện có với khách hàng khách hàng của mình. Thỏa mãn Đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng theo những tiêu chí khách hàng hiệu quả hoạt động cụ thể trong tập hợp giá trị. Ngoài ra, các nhà quản lý cũng phải nhận diện đƣợc khách hàng trong phân khúc mục tiêu coi trọng gì và cần lựa chọn “tập hợp giá trị” mà họ sẽ cung cấp cho các khách hàng này.
Sau đó họ có thể chọn mục tiêu và thƣớc đo trong số ba lớp thuộc tính mà nếu đƣợc thỏa mãn thì sẽ làm cho công ty duy trì và mở rộng hoạt động kinh doanh với những khách hàng mục tiêu này.