CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TỪ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Ngân hàng thương mại và các hoạt động của ngân hàng thương mại Theo điều 4, luật các tổ chức tín dụng, số 47/2010/QH12 được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 16/6/2010, “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán trong nền kinh tế”. Hiện nay, NHTM ở Việt Nam gồm có NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần, NHTM 100% vốn nước ngoài, NHTM liên doanh. Trong đó, chức năng chính của các NHTM là: chức năng trung gian tài chính; chức năng trung gian thanh toán; chức năng tạo tiền. Ứng với những chức năng như vậy, NHTM có những hoạt động quan trọng như sau: Huy động vốn, sử dụng vốn và các nghiệp vụ trung gian tài chính.1 Hoạt động huy động vốn Huy động vốn được hiểu là việc các ngân hàng đi vay nợ từ nền kinh tế, trong đó các NHTM sẽ được sử dụng các cách thức, phương pháp, công cụ nhằm thu hút các cá nhân, tổ chức gửi tiền vào ngân hàng, trên cơ sở hai bên cùng có lợi.
Đây là nghiệp vụ mà ngân hàng tiếp nhận nguồn tiền nhàn rỗi từ cá nhân, tổ chức thông qua nhiều hình thức để tạo ra nguồn vốn duy trì hoạt động của ngân hàng. Bởi lẽ, trong nền kinh tế luôn luôn tồn tại khoản vốn nhàn rỗi, tuy nhiên người cần vốn và người có vốn nhàn rồi lại không gặp được nhau vì nhiều lý do, nên lúc này NHTM chính là cầu nối giữa hai bên. Nguồn vốn có ý nghĩa vô cùng quan trọng với mỗi NHTM, nó phục vụ cho hoạt động kinh doanh của NHTM. Nguồn vốn phần lớn là tiền gửi của các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế.
Đặc biệt khi NHTM là tổ chức không sử dụng vốn sở hữu để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình. Do vậy, huy động vốn được coi là hoạt động cơ bản quan trọng nhất của NHTM, đây là hoạt động nhằm tạo nguồn vốn cho NHTM có vai trò vô cùng quan trọng bởi nó ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng. NHTM thực hiện việc huy động vốn thông qua nhiều hình thức để thu hút nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội. Trong hội thảo nâng cao hiệu quả huy động vốn của NHTM vào tháng 6 năm 2017, đã chỉ ra đặc điểm của huy động vốn của NHTM bao gồm: “Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM, NHTM duy trì được hoạt động phần lớn là nhờ loại vốn này.
Tuy nhiên, đây là khoản không có tính ổn định vì khách hàng có thể rút bất cứ lúc nào nên NHTM luôn phải đảm bảo duy trì một khoản dự trữ để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng khi cần thiết. Do vậy mà các NHTM 4 không sử dụng nguồn vốn huy động để đầu tư mà chỉ dùng cho các hoạt động tín dụng hay bảo lãnh”. Có nhiều hình thức huy động vốn như: - Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế có thể là từ các công ty, các tổ chức xã hội,… Đây là đối tượng thường xuyên có khoản tiền nhàn rỗi khá lớn. Do vậy, các tổ chức này có thể gửi tiền vào NHTM vừa để thu lợi nhuận từ việc nhận lãi khi gửi tiền có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn, ngoài ra còn góp phần làm tăng tốc độ lưu thông của tiền.
- Huy động vốn từ KHCN: Đây là hoạt động thu nhận tiền mặt của dân cư gửi vào các NHTM với mục đích chính là tiết kiệm, sinh lời và thanh toán. - Huy động vốn qua việc đi vay: Thông qua các hoạt động như phát hành trái phiếu (trung và dài hạn), chứng từ có giá, chứng chỉ tiền gửi hoặc vay từ Ngân hàng nhà nước (NHNN), tổ chức tín dụng khác. Để được phát hành trái phiếu, NHTM cần sự cho phép của NHNN hoặc hội đồng chứng khoán. Nhược điểm của hình thức huy động vốn này là NHTM phải chịu lãi suất cao hơn so với lãi suất huy động tiền gửi.
- Ngoài ra, còn một số hình thức huy động vốn khác như: lợi nhuận từ thu chi hộ khách hàng, làm đại lý cho các tổ chức tín dụng khác, nhận chuyển vốn,… Các khoản này có thể được NHTM sử dụng vào hoạt động kinh doanh của mình.2 Hoạt động sử dụng vốn Hoạt động sử dụng vốn bao gồm hai nghiệp vụ chính đó là cho vay và đầu tư. Hai nghiệp vụ này đóng vai trò có ảnh hướng lớn đến khả năng sinh tồn và hoạt động của NHTM, mang lại lợi nhuận cho NHTM. Hiệu quả sử dụng vốn càng tốt sẽ góp phần nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh cho ngân hàng. Do vậy, nghiên cứu chiến lược sử dụng vốn hợp lý là một trong những điều mà mọi ngân hàng đều quan tâm.
Đối với hoạt động cho vay: là hoạt động mà NHTM cho doanh nghiệp, tổ chức hay cá nhân nào đó vay một khoản vốn để kinh doanh, đầu tư hay tiêu dùng, khi đến kỳ hạn người đi vay phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cả vốn và lãi suất vay. Đây là một trong những nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng của NHTM, đem lại phần lớn thu nhập cho các NHTM nhờ hưởng mức chênh lệch giữa lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay. Có các phương thức vay như sau: Cho vay từng lần, thấu chi, cho vay theo hạn mức, theo hình thức tín dụng dự phòng, cho vay trả góp, hợp vốn,. Hiệu quả thực hiện hoạt động cho vay liên quan trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng, ảnh hưởng đến sự sống còn của ngân hàng.
Tuy nhiên, cho vay cũng có rất nhiều rủi ro ví dụ như nợ xấu – tức ngân hàng gần như không thể thu lại nguồn vốn đã cho vay, trả không đúng kỳ hạn,.do những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Vì vậy, trong hoạt 5 động cho vay các ngân hàng luôn sử dụng các biện pháp chứng minh tài chính, thế chấp hay cầm cố để giảm thiểu rủi ro. Còn với nghiệp vụ đầu tư, đầu tư của ngân hàng được thể hiện dưới một vài hình thức như là: Đầu tư mua bán chứng khoán, góp vốn vào các doanh nghiệp, đầu tư cho trang thiết bị tài sản cố định cho ngân hàng,.Trong đó, đầu tư chứng khoán và đầu tư liên doanh liên kết là hai hoạt động đầu tư chủ yếu nhất của NHTM. Mọi hoạt động đầu tư của NHTM đều nhằm mục đích mang lại lợi nhuận.
Mặc dù quy mô cho hoạt động đầu tư của các NHTM còn khá nhỏ nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp NHTM thâm nhập vào nền kinh tế. Ngoài ra, dự trữ cũng là một hoạt động quan trọng đối với NHTM nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho NHTM. NHNN luôn quy định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các NHTM. Dự trữ bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi NHNN, tiền gửi từ các tổ chức tài chính khác, chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao như tín phiếu kho bạc, hối phiếu đã chấp nhận,.3 Thực hiện các nghiệp vụ trung gian tài chính Đối với nghiệp vụ này, các NHTM cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán tiện ích không dùng tiền mặt.
Ngân hàng có các dịch vụ như ủy thác - tức ngân hàng quản lý tài sản và quản lý tài chính cho các cá nhân và doanh nghiệp; đưa ra lời khuyên, tư vấn cho các doanh nghiệp về hướng đầu tư, cách thức quản lý tài sản tài chính, các thủ tục để thành lập doanh nghiệp, mua bán hoặc sát nhập doanh nghiệp. Ngân hàng thực hiện dịch vụ bảo lãnh như bảo lãnh cho các cá nhân hoặc tổ chức “mua chịu” hàng hóa, trang thiết bị, vay vốn hay phát hành chứng khoán,. Ngoài ra, NHTM còn có các hoạt động cho thuê tài chính, cho thuê máy móc thiết bị, những tài sản có giá trị lớn và thời gian thuê lâu dài. Trong khuôn khổ bài viết này tập trung vào hoạt động huy động vốn tiền gửi, đăc biệt là tiền gửi từ khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại.
Do đó, nội dung tiếp theo sẽ đề cập chi tiết về hoạt động này.2 Huy động vốn tiền gửi từ khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1.1 Khách hàng cá nhân và vốn tiền gửi từ khách hàng cá nhân Theo tài liệu hội nghị “Chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ ngân hàng ngân hàng thương mại”, “Khách hàng cá nhân (KHCN) bao gồm các cá nhân hoặc hộ gia đình. Đây là đối tượng vô cùng tiềm năng do lượng khách đông đảo và kinh tế càng phát triển thì nhu cầu của khách hàng thì ngày càng cao. Khách hàng cá nhân cũng tạo động lực đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ của các NHTM do nhu cầu của khách hàng cá nhân rất đa dạng”. 6 Theo khoản 9, điều 20, Luật các tổ chức tín dụng 2010, “Vốn tiền gửi từ khách hàng cá nhân là số tiền các cá nhân hay hộ gia đình gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác.
Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền”. Đặc điểm của vốn tiền gửi từ KHCN Thứ nhất, vốn tiền gửi từ KHCN là nguồn vốn tiền gửi từ khách hàng cá nhân của ngân hàng mà các cá nhân đang nắm giữ. Thứ hai, vốn tiền gửi từ KHCN chiếm tỷ trọng cao và có vai trò quan trọng đối với hoạt động của NHTM. Thứ ba, nguồn vốn huy động từ KHCN có tính ổn định và tiềm năng phát triển mạnh mẽ.
Các NHTM đang ngày càng muốn khai thác tiềm năng lớn từ tiền gửi khách hàng cá nhân thông qua nhiều chính sách như đa dạng hóa hình thức, loại tiền gửi và còn rất nhiều chương trình Marketing thu hút các KHCN gửi tiền vào ngân hàng. Đặc biệt khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nguồn tiền nhàn rỗi trong dân càng lớn, điều này khiến cho huy động vốn tiền gửi từ KHCN trở thành hoạt động hứa hẹn đem lại cho NHTM tiềm năng phát triển rất lớn nếu biết tận dụng tốt. Thứ tư, vốn tiền gửi từ mỗi KHCN có quy mô nhỏ nhưng lượng khách hàng cá nhân lớn.