CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÀI CHÍNH VI MÔ 1. Cơ sở lý thuyết về tài chính vi mô 1. Lịch sử ra đời và phát triển của tài chính vi mô Tài chính vi mô được đánh dấu rõ vào năm 1996 theo quan điểm của thế giới, nhiều bài báo được đăng tải trên các tạp chí học tập, các nghiên cứu của phát triển lớn như World Bank và các tổ chức phát triển của Liên hợp quốc. Tháng 2 năm 1997, Hội nghị quốc tế thượng đỉnh tín dụng ở Washington DC đã có hơn 2000 người tham gia.
Mục đích của cuộc họp thượng đỉnh này nhằm đẩy mạnh sự hứa hẹn những nhà hoạt động thực tế, các chính phủ, các nhà tài trợ và các nhà hoạt động phát triển khác về việc coi tài chính vi mô như là một chiến lược nhằm xoá đói giảm nghèo bền vững và phát triển xã hội tại các quốc gia đang phát triển. Trung tâm phát triển Châu Á Thái Bình Dương (APDC) là một tổ chức chính phủ được tài trợ bởi 21 Chính phủ và Nhà nước chấp nhận tài chính vi mô cho người nghèo như là một chiến lược hàng đầu trong chương trình xoá đói giảm nghèo. Trong những năm gần đây, nhiều khởi xướng mới về tài chính vi mô đã xuất hiện ở Châu Á và khu vực Thái Bình Dương. Tầm quan trọng của tài chính vi mô đối với phát triển kinh tế - xã hội cũng đã được khẳng định trong thực tế thông qua việc Liên hiệp quốc chọn năm 2005 là năm quốc tế về tài chính vi mô và đặc biệt giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2006 đã được trao cho Ngân hàng Grameen Bank và người sáng lập Giáo sư Muhammad Yunus “Vì những nỗ lực của họ trong việc tạo ra sự phát triển kinh tế và xã hội’’.
Trên thế giới tài chính vi mô phát triển qua 4 giai đoạn: - Thứ nhất, là những năm 70 của thế kỷ XX: Đây là giai đoạn bắt đầu của tài chính vi mô và được diễn ra ở các nước đang phát triển thông qua các chương trình xoá đói giảm nghèo. - Thứ hai, là những năm 80 của thế kỷ XX: Đây là giai đoạn phát triển của tài chính vi mô với sự phục vụ số đông khách hàng mà vẫn có lãi. - Thứ ba, là những năm 90 của thế kỷ XX: Tài chính vi mô phát triển như một ngành riêng. Tại một số nước có sự cạnh tranh mạnh giữa các tổ chức tài chính vi mô cung cấp tài chính vi mô cho người nghèo.
- Thứ tư, là những năm 2000: Mục tiêu của tài chính vi mô là đáp ứng được nhu cầu ở quy mô lớn về dịch vụ tài chính xóa đói giảm nghèo. Tài chính vi mô được các tổ chức tài chính lớn như: Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Châu Á, Quỹ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quốc tế về phát triển nông nghiệp coi là tiếp cận cơ bản để mang dịch vụ tài chính cho người nghèo, tạo điều kiện xoá đói, giảm nghèo. Khái niệm tài chính vi mô a) Tài chính vi mô (TCVM) Có rất nhiều khái niệm về TCVM, một số khái niệm sau đã được nhiều tác giả đề cập đến trong các nghiên cứu: “TCVM là việc cung cấp dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu của người nghèo, bao gồm: Dịch vụ gửi tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm…” (CGAP). Theo quan điểm của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB, 2010) cho rằng TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp hoạt động kinh doanh cá thể và các doanh nghiệp nhỏ của họ”….
Robinson (2001) cho rằng tài chính vi mô cung cấp các khoản vay và các dịch vụ tài chính khác cho người nghèo. Ledgerwood (2013) quan niệm rằng: “TCVM bao gồm cả trung gian về mặt tài chính và trung gian xã hội, có nghĩa là TCVM không chỉ đơn thuần là công cụ ngân hàng mà còn là công cụ phát triển”. Bên cạnh đó, thuật ngữ TCVM cũng được đề cập tương đối phổ biến ở Việt Nam, Nghị định 28/2005/NĐ-CP, đã dùng một khái niệm khác thay thế cho thuật ngữ này đó là tài chính quy mô nhỏ và nó được định nghĩa “Tài chính quy mô nhỏ là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và người nghèo”. Nguyễn Kim Anh và các tác giả (2013) cho rằng: “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu của người nghèo bao gồm: dịch vụ gửi tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm”.
Do vậy, có thể định nghĩa TCVM như sau: TCVM là việc cấp cho các hộ gia đình nghèo các khoản vay rất nhỏ nhằm mục đích giúp họ tham gia vào các hoạt động sản xuất hoặc khởi tạo các hoạt động kinh doanh nhỏ. TCVM thường kéo theo hàng loạt các dịch vụ khác như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm, vì những người nghèo và rất nghèo có nhu cầu rất lớn đối với các sản phẩm tài chính, nhưng không tiếp cận được các thể chế tài chính chính thức. b) Tổ chức tài chính vi mô Tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM) là một tổ chức chuyên cung cấp các dịch vụ sản phẩm TCVM bao gồm các khoản vay, tiết kiệm, bảo hiểm vi mô tới các đối tượng là người nghèo. Ledgerwood (1999), World Bank (2007) cho rằng tổ chức tài chính vi mô có thể là các tổ chức phi chính phủ, tiết kiệm và hợp tác xã tín dụng, các tổ chức công đoàn, ngân hàng nhà nước, ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức phi ngân hàng khác.
Một tổ chức TCVM có thể hoạt động 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không theo lợi nhuận như các ngân hàng thương mại. Các TCTCVM có các quy mô khác nhau và mục đích hoạt động khác nhau có thể cung cấp số lượng thành viên khách hàng khác nhau có thể không chung khu vực địa lý thông qua các chi nhánh của tổ chức. Nhiều tổ chức TCVM còn cung cấp các khoản vay và tiết kiệm, đào tạo về kinh doanh và các vấn đề về dịch vụ xã hội. Mục tiêu của tài chính vi mô Lựa chọn thị trường mục tiêu phụ thuộc vào mục tiêu của những người cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô cũng như nhu cầu có thể đoán trước đối với các dịch vụ tài chính.
Nói chung những mục tiêu phát triển này sẽ bao gồm một mục tiêu sau đây, đó là: Để giảm đói nghèo, nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ và người tàn tật, tạo công ăn việc làm, giúp doanh nghiệp phát triển hoặc đa dạng hóa hoạt động, tạo tiền đề kích thích sự phát triển của một số doanh nghiệp mới. Trong nghiên cứu về cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thế giới, người ta chú trọng đến mục tiêu chủ yếu sau đây: Tạo ra những cơ hội về việc làm và thu nhập thông qua việc mở rộng các doanh nghiệp nhỏ là phụ nữ và người nghèo; Làm giảm sự phụ thuộc vào những vụ mùa chính trong năm của các hộ gia đình ở nông thôn bằng cách đa dạng hoá các hoạt động thu nhập. Mục đích dài hạn của tổ chức TCVM là: Mở rộng tiếp cận, phục vụ những nhóm người chưa được các chính phục vụ (phụ nữ, người nghèo, dân cư sống ở khu vực nông thôn). Về mục đích bền vững thì tạo ra đủ lợi nhuận để trang trải các chi phí cung cấp các dịch vụ tài chính.
Vai trò của tài chính vi mô Tài chính vi mô có đóng góp quan trọng cho người nghèo trong việc thoát khỏi cái nghèo. Nhìn nhận theo khía cạnh kinh tế một cách đơn giản thì các tổ chức tài chính vi mô có các tác dụng sau: Đáp ứng tốt vốn lưu động cho người nghèo; Đề xuất cách đầu tư thích hợp cho người nghèo; Trình bày các ý kiến lựa chọn tiết kiệm để tích trữ tài sản; Đề xuất bảo hiểm cho quản lý rủi ro và tiết kiệm cho chu kỳ sống; Đáp ứng linh hoạt cho các thay đổi bất thường ngoài kế hoạch hoặc không thuận lợi; Nâng cao năng lực và vị thế thương lượng cho người nghèo; Cung cấp các tư vấn sử dụng tiền cho hộ nghèo. Tiếp cận tài chính vi mô có thể dẫn đến các khoản thu nhập cao hơn cho người nghèo bằng một hoặc bằng một số cơ chế trong các hoạt động đầu tư hoặc tiết kiệm của các hộ nghèo như sau: Tăng thu nhập hoặc giảm thiểu thất nghiệp với mức lương hiện tại, có mức lương cao hơn do tăng năng suất với việc làm hiện tại và việc làm mới; Đầu tư vào các tài sản cho sản xuất hiện tại hoặc yêu cầu các tài sản sản xuất được bổ sung; Thu nhập cao hơn với việc tạo ra nhiều hơn các sản phẩm hàng hóa dịch vụ được bán trong thị trường do tiếp cận được các thị 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trường mới hoặc thị trường mới hoặc thị trường có giá trị cao hơn; Giảm chi phí sinh kế cho các hộ và chi phí sản xuất cho các tổ chức kinh doanh do chuyển giao được công nghệ, do vay nợ với chi phí thấp hoặc tiếp cận các nhu cầu cơ bản hoặc các hàng hoá dịch vụ trung gian rẻ. Các nguyên tắc của tài chính vi mô Các chương trình tài chính vi mô đã phát triển bền vững và được quan tâm vì chúng được đặc trưng bởi rất nhiều nguồn tiếp cận khác nhau so với các chương trình tín dụng nông thôn truyền thống.
Các nguyên tắc của tài chính vi mô được tổng kết lên từ thực tiễn hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô mà trọng tâm nhất là ngân hàng Grameen của Bangladesh: Hoạt động nhóm; Tổ chức cố định và hệ thống bền vững; Tiết kiệm đối lại với tín dụng; Cho vay. a) Một số quy định về việc sử dụng vốn, tài sản của tổ chức tài chính vi mô Trong suốt quá trình hoạt động, sản xuất kinh doanh, tổ chức tài chính vi mô phải đảm bảo duy trì giới hạn đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản cố định phục vụ trực tiếp cho hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc: Giá trị còn lại của tài sản cố định không vượt quá 50% vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ đối với tổ chức tài chính vi mô. Không hạch toán tăng tài sản, không thực hiện trích khấu hao đối với các bất động sản tổ chức tài chính vi mô nắm giữ tạm thời để bán, chuyển nhượng nhằm thu hồi vốn.