CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP, CỤM CÔNG NGHIỆP 1.1 Nguồn gốc về sự hình thành và phát triển của khu công nghiệp, cụm công nghiệp: Hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ quản lý xã hội và tâm lý từ sử dụng lao động KCN đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản vào những năm cuối thế kỷ XIX. KCN đầu tiên được thành lập năm 1896 ở Manchester (Anh) và vùng công nghiệp Clearing Chicago (Mỹ), năm 1940, ý thành lập KCN tại Napoli. Đến thập kỷ 1950 - 1960 ở Mỹ có 452 vùng công nghiệp và gần 1.000 KCN sau đó tăng lên 2. Pháp có 230 vùng công nghiệp (năm 1930) và Canada có 21 vùng công nghiệp (năm 1965).
Với Châu Á, KCN đầu tiên được thành lập ở Singapore vào năm 1951, Malaixia năm 1954, Ấn Độ năm 1955. Hiện nay ở khu vực Châu Á có 1.000 KCN đang hoạt động. Ở Việt Nam, KCN đầu tiên được thành lập 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh đó là KCX Tân Thuận. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987, Quy chế khu chế xuất đã được ban hành kèm theo Nghị định 322/HĐBT ngày 18/10/1981, tiếp đó ngày 28/12/1994 Chính phủ ban hành nghị định 192-CP về quy chế KCN; ngày 14/4/1997 ra Nghị định 36-CP về quy chế KCN, KCX, KCNC, và ngày 14/3/2008 ra Nghị định 29-CP của Chính phủ về KCN, khu chế xuất và khu kinh tế.
Trong 5 năm đầu tiên (1991-1995) cả nước ta mới có 12 KCN với diện tích quy hoạch 2.277 ha, nhưng chỉ 3 năm tiếp theo đã có tới 50 KCN được thành lập với diện tích 7. Giai đoạn 1999-2001, do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu Á, quá trình phát triển KCN bị chững lại, thời gian này chỉ có 5 KCN được thành lập mới. Giai đoạn từ năm 2008- 2012, các KCN đã có bước phát triển mới, đến năm 2008 đã có tới 223 KCN 16 thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ với diện tích đất 57.264 ha và đến năm 2012, cả nước có 289 KCN với tổng diện tích đất tự nhiên trên 80.000 ha đất công nghiệp có thể cho thuê chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó, với 179 KCN đã đi vào hoạt động, với tổng diện tích đất tự nhiên 51.000 ha và 110 KCN đang trong quá trình đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng, với tổng diện tích đất tự nhiên 29.
Khái niệm, đặc điểm khu, cụm công nghiệp: 1.1 Khái niệm khu công nghiệp, cụm công nghiệp: 1.1 Khái niệm khu công nghiệp Theo Nghị định số 29/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về KCN, KCX và KKT thì định nghĩa về các KCN, KCX và KKT như sau: Khu công nghiệp: là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ. Khu chế xuất: là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định của Chính phủ. Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ trường hợp quy định cụ thể.2 Khái niệm cụm công nghiệp: Theo điều 2 Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/08/2009 của Thủ tướng Chính Phủ: Cụm công nghiệp là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất công 17 nghiệp- tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất các doanh nghiệp nhỏ và vừa các cá nhân hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh. CCN có quy mô diện tích không quá 50 ha.
Trường hợp cần thiết phải mở rộng CCN thì tổng diện tích sau khi mở rộng cũng không vượt quá 75 ha Có nhiều khái niệm khác nhau về khu công nghiệp, ở luận văn này, tác giả thống nhất khu công nghiệp, khu kinh tế đều được gọi chung là khu công nghiệp.2 Đặc điểm KCN, CCN 1.1 Đặc điểm KCN ở Việt Nam - KCN là nơi các doanh nghiệp thuê mặt bằng sản xuất để tiến hành sản xuất và thực hiện dịch vụ cho sản xuất đó. - KCN có địa lý ranh giới xác định; - Trong KCN không có dân cư sinh sống; - KCN được xây dựng để cung ứng cơ sở hạ tầng thuận lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư và đặc biệt khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào khu công nghiệp, tránh phân tán nhỏ lẻ khó quản lý, khó tập trung được mọi điều kiện thuận lợi. - Đặc trưng chính của các KCN là ưu tiên hướng ngoại, thu hút chủ yếu vốn đầu tư nước ngoài nhằm phát triển các loại hình sản xuất công nghiệp hướng về thị trường thế giới. - Ban quản lý các KCN do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế, chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động của UBND cấp tỉnh, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ của các Bộ, ngành quản lý về ngành, lĩnh vực 18 liên quan, có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.2 Đặc điểm CCN: - Ban quản lý các KCN (Sở Kế hoạch và Đầu tư) là cơ quan đầu mối tham mưu giúp UBND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các CCN trên địa bàn.
- CCN có quy mô diện tích không quá 50 ha, trong trường hợp cần thiết mở rộng CCN thì tổng diện tích sau khi mở rộng không vượt quá 75 ha. - Cụm công nghiệp là một hình thức biểu hiện của KCN thích ứng với trình độ thấp của phát triển công nghiệp. Đối tượng CCN là các cơ sở sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh gia đình) ở làng nghề chuyển đến. - Cụm công nghiệp đã thực hiện sự tách biệt khu vực sản xuất khỏi khu vực dân cư sinh sống.
- Cụm công nghiệp được thành lập theo quyết định của UBND cấp tỉnh. Vai trò của KCN trong tiến trình CNH - HĐH đất nước 1.1 Thực tiễn phát triển KCN, KCX thời gian qua cho thấy: Các KCN, KCX đã góp phần quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng sản lượng công nghiệp; góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; khai thác tốt nhất mọi nguồn lực và những lợi thế hiện có, nâng cao sức cạnh tranh và đẩy nhanh tốc độ phát triển chung của nền kinh tế. Trong những năm qua, doanh thu và giá trị kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong các KCN, KCX liên tục tăng nhanh đều qua các năm. Doanh thu trung bình của các doanh nghiệp trong KCN, KCX tăng trưởng trung bình gần 48%/năm, gấp 6,3 lần tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của cả nước (nguồn: Vụ Quản lý các KKT – Bộ KHĐT).
19 Giá trị xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp trong các KCN, KCX tăng trưởng mạnh, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN, KCX giai đoạn từ năm 2008-2012 là 43,7%, cao hơn nhiều tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của cả nước. Năm 2008, các doanh nghiệp này đóng góp vào ngân sách nhà nước đạt 2.620 triệu USD, đến năm 2012, tổng doanh thu của các doanh nghiệp KCN đạt hơn trên 60 tỷ USD (tăng 57% so với năm 2011) và 86,73 nghìn tỷ đồng (tăng gần 20.000 tỷ đồng so với năm 2011); kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của các doanh nghiệp đạt xấp xỉ 38 tỷ USD và 37,7 tỷ USD, tăng 26% so với năm 2011, bằng 33% so với giá trị xuất nhập khẩu của cả nước năm 2012; đóng góp vào ngân sách nhà nước 30,5 nghìn tỷ đồng và 416 triệu USD, tăng hơn 15% so với cùng kỳ (xem Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu của các khu công nghiệp toàn quốc Chỉ tiêu ĐVT 2012 GTSX Công nghiệp Triệu USD 34.980 Giá trị xuất khẩu " 18.950 Giá trị nhập khẩu " 19.630 Nộp ngân sách " 4.500 Lao động cuối kỳ 1000 người 2.150 (Nguồn: Vụ quản lý các KKT – Bộ KHĐT, 2012) Giá trị sản xuất công nghiệp và xuất khẩu của các KCN, KCX tăng trưởng mạnh đã góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành của Việt Nam theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp trong GDP, từ 23,79% năm 1991 lên 47% năm 2012. Trong khi đó, tỷ trọng ngành nông lâm ngư nghiệp giảm tương ứng từ 40,49% năm 1991 xuống còn 20% năm 2012 (“nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam, 2012”). 20 Sự chuyển dịch cơ cấu này chủ yếu là do tốc độ tăng trưởng nhanh của những ngành công nghiệp chế biến có liên quan mật thiết đến xuất khẩu và KCN, KCX.
Hiện nay các ngành công nghiệp chế biến chiếm tới 80% giá trị sản lượng công nghiệp (trừ ngành khai thác mỏ). Trong đó có một số ngành có tốc độ tăng trưởng rất cao như may mặc và da giầy. Chính những ngành này là động lực chính làm tăng tỷ trọng ngành công nghiệp trong thời gian qua, góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa đất nước. Việc phát triển các KCN, KCX có vai trò quan trọng trong việc góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa.
KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tạo ra lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao: KCN, KCX là khu vực có những điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cùng với chính sách ưu đãi đầu tư được áp dụng. Đây là điểm đến lý tưởng để các nhà đầu tư, trong đó có nhà đầu tư nước ngoài. Một số công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới cùng trình độ quản lý cao của đội ngũ cán bộ doanh nghiệp, trình độ tay nghề của công nhân theo các chuẩn mực quốc tế đã được áp dụng tại Việt Nam. Đây cũng là yếu tố quan trọng góp phần để nước ta thực hiện việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghề mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.