Chương I: Cơ sở lý luận về đầu tư xây dựng cơ bản. Chương II: Phân tích thực trạng đầu tư xây dựng cơ bản ở Điện lực Từ Liêm. Chương III: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản ở Điện lực Từ Liêm. -9- Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản ở Điện lực Từ Liêm PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN - 10 - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản ở Điện lực Từ Liêm 1.1 Đầu tư phát triển.
Khái niệm đầu tư phát triển. Đầu tư là một hoạt động kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến gia tăng tiềm lực của nền kinh tế nói chung, tiềm lực sản xuất của từng đơn vị kinh tế nói riêng, đồng thời tạo ra việc làm cho các thành viên trong xã hội. Đứng trên mỗi góc độ khác nhau sẽ có một khái niệm về đầu tư khác nhau. Dưới góc độ tài chính: Đầu tư là một chuỗi các hoạt động chi tiêu để chủ đầu tư nhận về một chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời.
Dưới góc độ tiêu dùng: Đầu tư là một hình thức hạn chế tiêu dùng hoặc hy sinh tiêu dùng ở hiện tại để thu về một mức tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai. Dưới góc độ một nhà đầu tư: Đầu tư là việc bỏ vốn hay chi dùng vốn cùng các nguồn lực khác trong hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó (tạo ra hoặc khai thác sử dụng một tài sản) nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai. Từ các khái niệm trên về đầu tư ta có thể rút ra khái niệm chung về đầu tư như sau, đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành hoạt động nào đó nhằm thu về cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó. Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.
Những kết quả của đầu tư có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là quá trình chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật, là quá trình chi dùng vốn để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, và bồi dưỡng nhằm tạo ra những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh; dịch vụ; tạo ra những tài sản mới, năng lực sản xuất mới và duy trì tiềm lực sẵn có của nền kinh tế. Đặc điểm đầu tư phát triển - 11 - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản ở Điện lực Từ Liêm Đầu tư có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, do đó cần đẩy mạnh hoạt động đầu tư. Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm cơ b ản khác biệt với các loại hình đầu tư khác đó là: Thứ nhất, đầu tư phát triển đòi hỏi lượng vốn lớn và để nằm trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.
Đây là cái giá phải trả khá lớn của đầu tư phát triển. Do đó cần phải tính toán chính xác khả năng có thể đầu tư và để không bị thiếu vốn thì chủ đầu tư nên đầu tư theo giai đoạn, hạng mục công trình nào cần làm trước, hạng mục công trình nào cần làm sau có thể làm sau. Đồng thời cần làm tốt các bước của quá trình lập dự án và phải biết huy động vốn từ nhiều nguồn. Thứ hai, hoạt động đầu tư mang tính chất lâu dài.
Thời gian tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả phát huy tác dụng đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra và thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ số vốn đã bỏ ra cũng đòi hỏi nhiều năm. Đời của dự án gắn với sự tồn tại của sản phẩm dự án trên thị trường và từ khi vận hành đến khi kết thúc đời dự án cũng đòi hỏi thời gian dài. Thứ ba, đa số các công trình thuộc đầu tư phát triển được tạo ra ở một vị trí cố định. Nên nó chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của vùng.
Để hoạt động đầu tư có hiệu quả nhà đầu tư cần tìm hiểu rõ điều kiện khí hậu, tôn giáo, thói quen của người dân nơi công trình được đầu tư. Thứ tư, vì thời gian đầu tư và vận hành kết quả kéo dài, vốn đầu tư lớn nên hoạt động đầu tư phát triển có mức độ rủi ro cao. Do đó khi tiến hành phải nghiên cứu mọi yếu tố tác động đến hoạt động đầu tư của dự án, xem xét các nguyên nhân rủi ro và biện pháp loại bỏ, hạn chế rủi ro. Ngoài ra hoạt động đầu tư phát còn có một số đặc điểm như: Thành quả có giá trị lớn, chịu tác động lớn từ điều kiện ngoại cảnh: khí hậu, thời tiết, luật pháp, chính sách … Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị, đó là việc lập dự án đầu tư.
Vai trò đầu tư phát triển - 12 - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản ở Điện lực Từ Liêm Từ việc xem xét khái niệm của đầu tư phát triển, chúng ta có thể khẳng định đầu tư phát triển là một nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng. Vai trò của đầu tư được thể hiện ở các mặt sau đây: a). Đầu tư vừa tác động đến tổng cung và tổng cầu. Cung, cầu là hai nhân tố cơ bản trong nền kinh tế thị trường, là động lực của tăng trưởng kinh tế.
Tổng cầu là khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà các tác nhân trong nền kinh tế (Doanh nghiệp, các nhà sản xuất) sẽ sử dụng tương ứng với giá, thu nhập và một số biến khác đã biết. Còn tổng cung là một bộ phận khối lượng sản phẩm quốc dân mà các hãng sẽ sản xuất và sẵn sàng bán ra trong một thời kỳ tương ứng với giá cả, khả năng sản xuất và chi phí sản xuất đã cho. Có hai phương thức tác động của đầu tư đến tổng cung và tổng cầu đó là: tác động trực tiếp và tác động gián tiếp. Nếu sử dụng vốn đầu tư là một yếu tố đầu vào của quá trình trực tiếp tạo ra sản phẩm, tác động đó là trực tiếp.
Còn nếu đem vốn đầu tư vào các yếu tố đầu vào khác như: khoa học công nghệ, lao động.từ đó tác động đến tổng cung và tổng cầu trong nền kinh tế, tác động đó là gián tiếp. Cơ chế tác động của đầu tư đến tổng cung và tổng cầu ra sao? Về mặt tổng cầu: Đầu tư là một bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế. Đầu tư tác động đến đường tổng cầu làm đường tổng cầu dịch chuyển và sự tác động của đầu tư tới tổng cầu là sự tác động ngắn hạn. Với tổng cung chưa kịp thay đổi đổi, sự tăng lên về nhu cầu các yếu tố sản xuất tức tổng cầu tăng, dẫn tới sản lượng cân bằng và giá cả các yếu tố đầu vào tăng lên.
Về mặt tổng cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên, kéo theo sản lượng tiềm năng tăng lên trong khi giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội. Tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
Đây là tác động có tính chất dài hạn của đầu tư. Vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đầu tư chính ở điểm này. - 13 - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản ở Điện lực Từ Liêm b). Đầu tư là một nhân tố tác động đến sự ổn định và phát triển kinh tế Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và tổng cung của nền kinh tế, làm cho mỗi sự thay đổi trong đầu tư, dù là tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định.
Bên cạnh những tác động tích cực do hoạt động đầu tư mang lạ i như: Tăng sản lượng sản phẩm, tăng trưởng kinh tế, tạo ra công ăn việc làm cho xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, cải thiện đời sống, tăng thu nhập…thì hoạt động đầu tư cũng có nhiều tác động tiêu cực đó là tác động đến môi trường (nếu đầu tư không hợp lý); làm giá cả tăng lên trong một chừng mực nhất định dẫn đến lạm phát; đến lượt mình lạm phát làm cho sản xuất đình trệ, đời sống người lao động gặp nhiều khó khăn, thâm hụt ngân sách, phát triển kinh tế chậm lại. Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Một số cơ cấu kinh tế quan trọng: - Cơ cấu kinh tế ngành (Công ngiệp, nông nghiệp, dịch vụ) Trong những năm gần đây cơ cấu ngành của Việt Nam: Công nghiệp: 33%, nông nghiệp: 27%, dịch vụ: 40%. - Cơ cấu kinh tế theo vùng Việt Nam chia làm 7 vùng cơ bản (vùng núi phía Bắc; Vùng đồng bằng Bắc Bộ; vùng Bắc Trung Bộ; vùng Nam Trung Bộ; vùng Đông Nam Bộ; vùng Tây Nguyên; vùng Tây Nam Bộ) - Cơ cấu thành phần kinh t ế - Cơ cấu đầu tư sản xuất - phi sản xuất - Cơ cấu đầu tư theo cơ cấu công nghệ của vốn Kinh nghiệm các nước trên thế giới cho thấy, con đường tất yếu để có tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn (từ 9 đến 10%/năm) là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với các ngành lâm ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai và khả năng sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng từ 5 đến 6%/năm là rất khó khăn.