Chương 1: Lý luận về hiệu quả đŕo tạo nguồn nhân lực trong Ngân hŕng thýőng mại. - Chương 2: Phân tích hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. - Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. 4 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Ngân hàng Thương mại Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường ở các nước.
Có nhiều khái niệm khác nhau về Ngân hàng thương mại: - Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. - Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp và cơ sở nào thường xuyên nhân của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dung cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng, hay dịch vụ tài chính. - Tại Điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng (2010): Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Có thể hiểu, ngân hàng thương mại là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chính là kinh doanh tiền tệ.
Nó được xem là một tổ chức kinh tế đặc biệt với mức độ rủi ro cao, cùng sức ảnh hưởng dây chuyền tới sức khoẻ nhiều doanh nghiệp khác cũng như tới sức khoẻ nền kinh tế. Do đó, hoạt động ngân hàng thương mại luôn chịu sự giám sát chặt chẽ nhất từ các thiết chế quản lý. Đồng thời, tự bản thân nó cũng đòi hỏi những bộ máy tổ chức quản lý vận hành hiệu quả nhất và liên tục được hoàn thiện. Nguồn nhân lực của ngân hàng thương mại, vì vậy, cần đáp ứng được những tiêu chuẩn nhất định Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Ngân hàng luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội.
Trong cơ chế thị trường, các Ngân hàng thương 5 mại và các tổ chức tín dụng là những doanh nghiệp đặc biệt vì tài sản trong quá trình kinh doanh của các Ngân hàng thương mại đều phụ thuộc vào khách hàng. Mặt khác, hàng hóa mà các Ngân hàng kinh doanh là một loại hàng hóa đặc biệt, nó rất nhạy cảm với sự biến đổi của thị trường và tình hình kinh tế xã hội.2 Nguồn nhân lực, nguồn nhân lực trong ngân hàng 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực hay nguồn lực con người là khái niệm mà trong đó con người được xem xét như một nguồn lực cho sự phát triển. Tuy nhiên, theo từng cách tiếp cận riêng, các nghiên cứu đề cập tới nguồn nhân lực với những góc độ và quan điểm khác nhau. Nicholas Henry (2009, Tr.256) cho rằng “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới”.
Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của tổ chức.TS Phạm Minh Hạc (1996, Tr.269): “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo giáo trình Quản trị nhân lực (2008, Tr.12) của trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”. Các khái niệm đã nêu chủ yếu tập trung mô tả nguồn nhân lực trong giới hạn của xã hội hay của một cộng đồng. Tuy nhiên, trong giới hạn của luận văn, nguồn 6 nhân lực được đặt trong giới hạn của tổ chức hay doanh nghiệp.
Do đó, khái niệm nguồn nhân lực được hiểu như sau: Nguồn nhân lực là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng trong quá trình lao động sản xuất. Thể lực là sức lực của con người, đó là sức vóc, là tình trạng sức khoẻ, chiều cao, cân nặng của cơ thể. Trí lực là trí tuệ, là sự hiểu biết nói chung, là kiến thức, kỹ năng kỹ xảo, kinh nghiệm cũng như quan điểm, đạo đức, nhân cách và niềm tin của mỗi con người. Nguồn nhân lực của một tổ chức hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản thân của con người.2 Khái niệm nguồn nhân lực ngân hàng Trong khuôn khổ đề tài, nguồn nhân lực được xác định là toàn bộ người lao động làm việc trong ngân hàng đó theo một cơ cấu xác định, với khả năng lao động và tiềm năng sáng tạo vô hạn, bao gồm tổng hòa năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách của con người đáp ứng yêu cầu do ngành nghề ngân hàng đòi hỏi. Toàn bộ tiềm năng đó hình thành năng lực nghề của nhân lực. Năng lực đó được tổ chức quản lý và phát triển thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe…và không ngừng được nâng cao trong quá trình sống và làm việc. Vấn đề quan trọng là phải khai thác, huy động tiềm năng đó vào quá trình hoạt động và phát triển của toàn ngành để biến tiềm năng đó thành hiện thực.
Muốn vậy phải nâng cao tính năng động nghề nghiệp của nguồn nhân lực (tính chủ động, sẵn sàng, khả năng thích ứng, sức sáng tạo, linh hoạt, truyền thống ngành nghề, tác phong lao động…). Nguồn vốn nhân lực có được từ kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và đặc điểm của cá nhân khi được phát huy sẽ mang lại lợi ích trong tương lai lớn hơn những lợi ích hiện tại. Đặc điểm nổi bật của nguồn nhân lực trong ngân hàng thương mại: - Với sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, cũng như sự thay đổi của hạ tầng công nghệ và quá trình hội nhập quốc tế, một bộ phận 7 nhân lực có thâm niên cao trong các ngân hàng thương mại gặp nhiều khó khăn trong việc bắt kịp điều kiện kinh doanh mới. Thực tế này gây thêm những khó khăn cho ngân hàng trong công tác nhân sự.
- Một đặc điểm đáng chú ý nữa của nguồn nhân lực trong ngân hàng thương mại là việc thiếu hụt chuyên gia, cũng như chưa thực sự quan tâm thoả đáng đến đội ngũ nhân lực kế cận và chủ chốt. - Cơ cấu nguồn nhân lực theo giới tính ở một số bộ phận mất cân xứng. Điển hình như ở bộ phận giao dịch của các ngân hàng thương mại chủ yếu là nữ giới. Trong khi đó, công việc ở bộ phận tín dụng hay thu hồi nợ lại thường có tỷ lệ nam giới cao hơn.
Tuy nhiên, khía cạnh này phản ánh tính đặc thù nhiều hơn là một thực tế bất ổn. Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt và đang chịu ảnh hưởng của toàn cầu hóa cùng sự cạnh tranh mạnh mẽ trong nền kinh tế…Để duy trì được lợi thế của ngân hàng, không có biện pháp nào hữu hiệu hơn là tập trung cho quản trị nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, những tiến bộ nhanh chóng về công nghệ sẽ tiếp tục làm thay đổi cách thức thực hiện công việc trong ngân hàng. Để làm chủ công nghệ mới, nguồn nhân lực cũng cần được phát triển.
Bên cạnh đó, các tổ chức như ngân hàng thương mại có những cam kết với xã hội về sự hoạt động lâu bền và ổn định. Như vậy, vấn đề quản trị nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở nhu cầu ngắn hạn trước mắt. Mà đó còn là sự chuẩn bị cho tương lai dài hạn. Đặc biệt chú trọng đến việc phát triển đội ngũ nhân lực kế cận.
Tóm lại, nâng cao nguồn nhân lực của ngân hàng là nhu cầu tất yếu không chỉ của bản thân ngân hàng, mà còn của từng thành viên trong tổ chức cũng như của cả cộng đồng. Nguồn nhân lực của ngân hàng thương mại cần thiết được phát triển hài hoà, cân xứng và có tính liên tục.3 Hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực - Đào tạo: Là hoạt động làm cho con người trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định. Là quá trình học tập để làm cho người lao động có 8 thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ. Đào tạo là giải pháp tốt để giải quyết sự thiếu hụt kỹ năng, kiến thức trong ngắn hạn.
Đào tạo là hoạt động thường xuyên nhằm làm cho tổ chức hoạt động trôi chảy, gia tăng sự ổn định và hiệu quả trong năng suất lao động. - Đào tạo nguồn nhân lực: Là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách, năng lực của người được đào tạo để hướng đến một mục tiêu, nhiệm vụ mới, cụ thể ở mức cao hơn. Đào tạo tạo nên sự chuyển biến về chất của nguồn nhân lực, biến những tiềm năng nhân lực của quốc gia thành những lực lượng lao động hiện thực phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Đào tạo nguồn nhân lực tại các NHTM là công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực tại ngân hàng nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ của người lao động, giúp họ có khả năng làm tốt công việc, qua đó đạt được mục tiêu, chiến lược của ngân hàng.
Đào tạo nguồn nhân lực có ảnh hưởng rất to lớn đối với nền kinh tế xã hội nói chung cũng như đối với các tổ chức nói riêng.