Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ nước ngoài tại Việt Nam" được tác giả Vũ Thế Anh thực hiện tại Trường Đại học Ngoại thương (Hà Nội, tháng 5 năm 2003) dưới sự hướng dẫn của ThS. Bùi Thị Lý. Đề tài thuộc chuyên ngành Kinh tế Ngoại thương, tập trung nghiên cứu lĩnh vực kinh tế quốc tế và quản lý công nghệ trong thương mại quốc tế.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH - HĐH) đòi hỏi Việt Nam phải nhanh chóng đạt được trình độ sản xuất tiên tiến. Khoa học - công nghệ cùng với giáo dục - đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu. Trong điều kiện nguồn lực nghiên cứu nội sinh còn hạn chế, việc du nhập tiến bộ khoa học kỹ thuật và tiếp nhận chuyển giao công nghệ (CGCN) từ nước ngoài vào trong nước được xem là giải pháp chiến lược, cần ưu tiên đi trước một bước nhằm rút ngắn khoảng cách tụt hậu. Tuy nhiên, hoạt động CGCN thời gian qua nảy sinh nhiều bất cập như nhập khẩu công nghệ lạc hậu, tình trạng khai khống giá máy móc và ô nhiễm môi trường.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác lập theo bốn nội dung chính:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung nhất về công nghệ và chuyển giao công nghệ trong nền kinh tế thị trường.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng công nghệ và hoạt động chuyển giao công nghệ nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn từ sau Đổi mới đến đầu những năm 2000.
  3. Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phản ánh giải pháp công nghệ thích hợp với điều kiện Việt Nam, chú trọng hoạt động chuyển giao công nghệ trong các doanh nghiệp.
  4. Đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả tiếp nhận chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, bao gồm các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hợp đồng chuyển giao công nghệ thuần tuý, cấp phép (license), hợp đồng chìa khóa trao tay và liên doanh.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Địa bàn cả nước, tập trung vào các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các ngành công nghiệp then chốt (công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông, công nghệ sinh học, vật liệu mới, cơ khí chế tạo, luyện kim - thép, xi măng, dệt may).
  • Thời gian: Số liệu khảo sát thực trạng phản ánh giai đoạn từ thập niên 1990 đến các năm 2000-2002.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tiếp cận công nghệ và hoạt động CGCN dưới góc độ kinh tế học ứng dụng và thương mại quốc tế. Về mặt lý thuyết, tác giả tổng hợp các định nghĩa công nghệ từ Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO), Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) và quan niệm thương mại: xem công nghệ là một loại hàng hóa vô hình được giao dịch qua thị trường.

Khung lý thuyết của đề tài xác định 4 thành phần cấu thành công nghệ:

  • Phần cứng / trang thiết bị (Technoware): máy móc, công cụ, hạ tầng kỹ thuật.
  • Phần thông tin (Informware): sơ đồ, bản vẽ, tài liệu thuyết minh, quy trình, mô tả sáng chế.
  • Phần thiết chế (Orgaware): tổ chức, cơ cấu quản lý, mạng lưới, sắp xếp điều hành.
  • Phần con người (Humanware): kỹ năng, tri thức, kinh nghiệm, kỷ luật và tính sáng tạo. Ba yếu tố Informware, Orgaware và Humanware hợp thành phần mềm công nghệ (Software).

Khóa luận phân loại công nghệ theo mức độ tiến bộ (cao, thường, thấp) và theo hàm lượng nguồn lực (thâm dụng lao động - Labour intensive, thâm dụng vốn - Capital intensive, thâm dụng tri thức - Knowledge intensive). Mô hình chuyển giao gồm 4 yếu tố (4M: Machine, Market, Management, Money). Các dòng chuyển giao trên thế giới được hệ thống hóa gồm: dòng Bắc - Nam, dòng Nam - Nam (tiêu biểu là hệ thống thông tin TIPS gồm 10 nước thành viên ban đầu do Chính phủ Ý tài trợ), dòng nội khối các nước phát triển, dòng M&A và dòng chuyển giao theo mô hình "đàn sếu bay" (chuyển giao công nghệ bước vào giai đoạn lão hóa từ các nước phát triển sang các nước công nghiệp mới NICs rồi sang các nước đang phát triển).

Về mặt pháp lý và kỹ thuật thương mại, khóa luận căn cứ vào Nghị định 45/1998/NĐ-CP của Chính phủ để phân tích các phương thức định giá công nghệ dựa trên "giá bán tịnh" (Net selling price), phương thức trả gọn (Lump-sum), trả kỳ vụ (Royalty) và góp vốn bằng công nghệ.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm:

  • Quan điểm phương pháp luận duy vật biện chứng.
  • Phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận với điều tra, thống kê, phân tích định lượng và tổng hợp số liệu thực tế.
  • Khung phân tích chuyên ngành kinh tế ngoại thương kết hợp định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước (Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị).

Nguồn dữ liệu sử dụng trong khóa luận được trích xuất từ các báo cáo điều tra thực tế của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (năm 1999); số liệu khảo sát của Bộ Công nghiệp; Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1999); Viện Nghiên cứu Kỹ thuật (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội); Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT); cùng các công trình nghiên cứu kinh tế của GS.TS. Trần Đắc Vụ (1995), TS. Danh Sơn (2000), Nguyễn Mạnh Hưng (2002), TS. Lưu Văn Nghiêm (2002), Trần Hữu Dũng (2000), Nguyễn Thanh Thịnh - Đào Duy Tính - Lê Dũng (1999).


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về công nghệ và chuyển giao công nghệ

Chương I tập trung giải quyết các nội dung lý luận nền tảng về bản chất, nội dung và các quy luật vận động của công nghệ trong nền kinh tế thị trường. Tác giả phân tích tính tất yếu của việc tiếp nhận công nghệ nước ngoài đối với các nước đang phát triển nhằm giải quyết quy luật phát triển không đều, khai thác lợi thế so sánh tương đối và thực hiện chiến lược "nhảy cóc công nghệ" (chu trình công nghệ đứt đoạn).

Khóa luận làm rõ các đối tượng chuyển giao công nghệ bao gồm quyền sở hữu công nghiệp (sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ), bí quyết kỹ thuật, tài liệu thiết kế và dịch vụ tư vấn đào tạo; khẳng định việc thuần tuý nhập khẩu máy móc thiết bị không đi kèm tri thức không được coi là CGCN.

Tác giả phân tích cơ chế xác định giá bán tịnh (Net selling price): lấy tổng doanh thu trừ đi chiết khấu thương mại, thuế gián thu, hàng tồn kho, chi phí quảng cáo, hoa hồng, bảo dưỡng, vận chuyển và giá trị nhập khẩu CIF kèm thuế nhập khẩu của linh kiện bán thành phẩm. Về phương thức thanh toán, tác giả đối chiếu với khung pháp lý tại Nghị định 45/1998/NĐ-CP:

  • Mức trả kỳ vụ thông thường từ 0-5% giá bán tịnh, hoặc 0-25% lợi nhuận sau thuế, hoặc 0-8% tổng vốn đầu tư (tối đa không quá 20% vốn pháp định khi góp vốn bằng công nghệ).
  • Đối với công nghệ cao hoặc địa bàn ưu đãi: tối đa 8% giá bán tịnh, 30% lợi nhuận sau thuế, hoặc 10% tổng vốn đầu tư.

Chương II: Tình hình hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam trong thời gian qua

Chương II là phần trọng tâm chứa các dữ kiện thực chứng về hiện trạng công nghệ và hoạt động CGCN tại Việt Nam giai đoạn 1990-2002. Tác giả dẫn chứng báo cáo của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đánh giá: trình độ công nghệ Việt Nam ở mức trung bình kém, lạc hậu so với thế giới từ 50 đến 100 năm (khoảng 2 đến 5 thế hệ kỹ thuật tuỳ chuyên ngành).

Các cuộc điều tra thực tế chỉ ra thực trạng thiết bị máy móc tại Việt Nam:

  • Điều tra 2.292 DNNN: 1.217 doanh nghiệp có máy móc hỗn tạp xuất xứ từ gần 20 quốc gia; hàng nghìn doanh nghiệp có trên 50% thiết bị đã quá cũ.
  • Khảo sát 727 thiết bị tại 42 nhà máy của Bộ Công nghiệp: 70% thiết bị mới nhập thuộc thế hệ những năm 1950-1960, trên 70% thiết bị đã hết khấu hao, 50% phải tân trang lại trước khi vận hành.
  • Khảo sát 733 doanh nghiệp tại Hà Nội: 90-92% doanh nghiệp sử dụng máy móc cũ kỹ.
  • Trình độ tự động hoá: Chỉ 3% DNNN sử dụng thiết bị tự động hoá, 39% dùng thiết bị bán cơ khí. Khối doanh nghiệp FDI có 40% tự động hoá và 45% bán tự động. Tốc độ đổi mới công nghệ cả nước chỉ đạt 8-10%/năm.

Khóa luận trình bày bảng so sánh năng lực công nghệ của 10 nước ASEAN dựa trên đánh giá của 24 công ty Nhật Bản:

Quốc gia Điểm đánh giá (Thang điểm 5) Quốc gia Điểm đánh giá (Thang điểm 5)
Singapore 3,8 Indonesia 2,2
Malaysia 3,0 Việt Nam 1,9
Philippines 2,8 Myanmar 1,8
Thái Lan 2,6 Lào 1,5
Brunei 2,6 Campuchia 1,3

Năng suất lao động tại Việt Nam chỉ bằng 30% mức trung bình thế giới do công nghệ lạc hậu. Tiêu hao năng lượng so với thế giới ở mức rất cao: cơ khí 120%, may mặc xuất khẩu 127%, ngành giấy 126%, dệt 110%, ngành than 175%, săm lốp cao su 204%, hóa chất cơ bản 138%, luyện kim đen 250%, luyện kim màu 148%, quạt điện 246%. Tiêu hao điện năng trên đơn vị sản phẩm xi măng cao gấp 1,4 lần thế giới; gạch chịu lửa gấp 2,5 lần; luyện thép gấp 1,7 lần.

Khóa luận phân tích chi tiết tình hình tại các ngành công nghiệp then chốt:

  • Công nghệ thông tin - Bưu chính viễn thông: Được đánh giá hiện đại nhất nhờ nhập khẩu công nghệ. Tuyến cáp quang Bắc - Nam hoàn thành năm 1993 đạt 34 Mbit/s dài 1.500 km; số hóa mạng truyền dẫn liên tỉnh 167.906 km luồng 2Mbit/s (tăng 918,5% so với 1992). Mật độ điện thoại tăng từ 1 máy/100 dân (năm 1995, 742.000 máy) lên 4 máy/100 dân (năm 2000, 3,3 triệu máy) và đạt 5,44 máy/100 dân tại thời điểm nghiên cứu (90% số xã có điện thoại). Tuy nhiên, tốc độ truyền dẫn quốc tế chỉ đạt trên 34 Mbit/s (thế giới đạt 2 Gbit/s). 90% doanh nghiệp chưa có khái niệm về thương mại điện tử, 97% chưa thanh toán qua ngân hàng, chỉ khoảng 2% (gần 3.000 doanh nghiệp) có website riêng.
  • Công nghệ sinh học: Đạt kết quả trong lai tạo các giống lúa xuất khẩu (P4, VD-10, IR 5960, OM 997-6), tiếp thu kỹ thuật tưới nhỏ giọt của Israel; Bia Sài Gòn đầu tư 2.000 tỷ VND đổi mới 90% thiết bị (1996-2000); Vinamilk đầu tư 781 tỷ VND đổi mới thiết bị trong 10 năm. Tuy vậy, ngành sinh học chủ yếu mới dừng ở bia và cồn rượu, các sản phẩm kháng sinh, axit amin, dung môi hữu cơ đều phải nhập khẩu.
  • Ngành vật liệu: Vật liệu mới chỉ chiếm 5% tổng sản lượng vật liệu. Một số dự án đổi mới tiêu biểu gồm: Công ty APP nhập công nghệ Viện Dầu mỏ Kiev (10,231 tỷ VND) sản xuất 7 loại mỡ bôi trơn; men Frit Phú Bài (41,540 tỷ VND, công suất 3.000 tấn/năm); sứ Hoàng Liên Sơn (2,5 tỷ VND, nâng công suất lên 2.500 tấn/năm đạt chuẩn IEC 383); Công ty Tư vấn thí nghiệm công trình giao thông I (6,2 tỷ VND, sản xuất phụ gia PA-99 theo chuẩn ASTM C494).
  • Cơ khí chế tạo, đường sắt và luyện kim: Lạc hậu 50-100 năm. Cả nước có 39.000 máy công cụ, hơn 10.000 chiếc chế tạo từ thập niên 1950, chỉ 1% là máy hiện đại mới nhập. Mới chỉ đóng được tàu biển 6.500 tấn (tàu Vĩnh Thuận) nhưng phải nhập động cơ; chỉ chế tạo được động cơ diesel 50 ml (thế giới đạt 20.000 ml). Đường sắt sử dụng tổng sức kéo 250.000 CV gồm 11 chủng loại từ 20 nước, đầu máy TY-7 của Liên Xô từ thập niên 1970 vẫn kéo tàu chính tuyến; năng suất đầu máy Việt Nam là 100% thì Trung Quốc đạt 153,5%, Thái Lan 656,85%, Ấn Độ 973,65%; 58,5% toa xe sản xuất trước năm 1980, chỉ 4,1% phù hợp nhu cầu. Ngành thép có 35 doanh nghiệp sản xuất, 40 cơ sở cán thép, tổng sản lượng 3,454 triệu tấn/năm nhưng chỉ đáp ứng 20% phôi thép (Thái Nguyên), công suất trung bình 10.000 tấn/năm (khu vực đạt 500.000 tấn/năm); lò điện luyện thép tiêu hao 900-1.000 kWh/tấn (thế giới 400-500 kWh); lò cao Thái Nguyên dung tích 100 m³ (thế giới 2.000-5.000 m³).
  • Xi măng và dệt may: Xi măng có 55 nhà máy lò đứng lạc hậu (3 triệu tấn/năm) trên tổng số 65 nhà máy. Dệt may có năng suất kéo sợi thấp, chỉ đạt 70-80 cọc sợi/công nhân (thế giới đạt 300-400 cọc); một số đơn vị đầu tư lớn như Dệt Việt Thắng (22 triệu USD), Dệt 8-3 (5,3 triệu USD cho 2,1 vạn cọc sợi Italia), May Việt Tiến (162 tỷ VND, 5.500 máy, năng lực 45 triệu sản phẩm/năm).

Khóa luận vạch rõ các tiêu cực tài chính và tác động môi trường do nhập khẩu công nghệ lạc hậu:

  • Khai khống giá: Liên doanh gia cầm Việt - Thái khai khống dây chuyền giết mổ lên 600.000 USD; Liên doanh Du lịch TP.HCM - Vinagroup khai giá thiết bị 4.000.000 USD nhưng giám định lại chỉ còn 2.200.000 USD; Công ty SGS giám định điểm 12 doanh nghiệp FDI phát hiện 6 đơn vị chênh lệch giá tới 14.000.000 USD; khảo sát 42 liên doanh của Bộ Công nghiệp ghi nhận mức thiệt hại 50.000.000 USD do nhập thiết bị cũ tân trang.
  • Ô nhiễm môi trường: KCN Biên Hòa xả hơn 26.000 m³/ngày đêm nước thải ra sông Đồng Nai, tải lượng BOD5 đạt 15.091 kg/ngày đêm, khí clo vượt tiêu chuẩn 15-30 lần; Phân lân Văn Điển xả bụi 1.100 mg/m³; Xi măng Hà Tiên 1 nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn cho phép từ 3-138 lần; Vedan xả thải không qua xử lý gây ô nhiễm nghiêm trọng sông Thị Vải. Môi trường lao động độc hại làm tỷ lệ ốm đau tăng 22,5%, bệnh nghề nghiệp tăng 6%/năm.
  • Nguồn lực R&D: Cả nước có 800.000 cử nhân, gần 9.000 tiến sĩ, gần 3.000 GS và PGS, nhưng tỷ lệ cán bộ R&D trên 1 triệu dân chỉ đạt trên 300 người (khoảng 4 cán bộ/10.000 dân); tỷ lệ R&D trong doanh nghiệp chỉ chiếm 32% (Thái Lan đạt 58,2%, Hàn Quốc 48%); đào tạo chuyên ngành công nghệ chỉ chiếm 15,4%. Hiện tượng lão hóa nhân lực rõ rệt: trên 63% tiến sĩ, 32% phó tiến sĩ và 20% kỹ sư trên 50 tuổi. Ngân sách chi cho KHCN chỉ đạt khoảng 1% tổng chi (Quốc hội phê duyệt 2%, thực tế chỉ đạt 50% kế hoạch); mức đầu tư bình quân cho một cán bộ KHCN dưới 1.000 USD/năm (thế giới là 55.000 USD, Singapore 53.000 USD, Hàn Quốc 56.000 USD, Nhật Bản 134.000 USD). Vốn xây dựng cơ bản cho KHCN chỉ đạt 50 USD/cán bộ/năm.

Bảng đánh giá vị thế tổng hợp của Việt Nam trong khu vực:

Thứ hạng Quốc gia Tài nguyên Vốn Trình độ LĐ Dân tộc tính Độ rộng TT Thể chế
1 Nhật Bản 10 1 1 2 1 1
2 Trung Quốc 1 5 5 1 8 5
3 Hàn Quốc 7 2 2 3 3 2
4 Đài Loan 7 3 3 7 4 3
5 Thái Lan 4 5 7 5 6 8
6 Malaysia 3 7 6 6 5 7
7 Singapore 9 4 4 10 2 3
8 Indonesia 2 8 9 4 8 10
9 Việt Nam 5 10 8 8 10 5
10 Philippines 6 9 9 8 7 9

Chương III: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam

Dựa trên những phát hiện ở Chương II, tác giả xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ theo các hướng trọng tâm:

  • Hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế quản lý: Triển khai nghiêm ngặt các quy định về thanh toán và thẩm định giá công nghệ theo Nghị định 45/1998/NĐ-CP; loại bỏ tình trạng nhập khẩu dây chuyền thuần túy mà không ký hợp đồng CGCN; siết chặt cơ chế kiểm soát góp vốn bằng công nghệ trong các dự án FDI.
  • Thiết lập hệ thống tiêu chí lựa chọn công nghệ thích hợp: Đánh giá toàn diện công nghệ trên ba thước đo: tính đồng bộ, tính tiến bộ và tính thích hợp (phù hợp với nguồn lao động, tài nguyên và chiến lược phát triển ngành).
  • Tăng cường công tác giám định, thẩm định kỹ thuật và chống chuyển giá: Thiết lập cơ chế kiểm định độc lập bắt buộc đối với máy móc thiết bị nhập khẩu nhằm ngăn chặn việc tân trang máy cũ, khai khống giá trị tài sản cố định làm xói mòn nguồn thu thuế thu nhập doanh nghiệp.
  • Đổi mới cơ chế tài chính và thúc đẩy đầu tư cho R&D: Đảm bảo phân bổ ngân sách thực tế cho khoa học công nghệ đạt mức tối thiểu 2% theo đúng Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị; tăng mức chi bình quân cho cán bộ nghiên cứu; khuyến khích doanh nghiệp trích lập quỹ phát triển khoa học công nghệ.
  • Kiện toàn và trẻ hóa nguồn nhân lực: Cải cách nội dung đào tạo đại học gắn liền với quản trị công nghệ và kỹ năng thực tế; quy hoạch đội ngũ chuyên gia công nghệ đầu ngành; nâng cao năng lực đàm phán hợp đồng thương mại quốc tế cho cán bộ cơ sở.
  • Kiểm soát nghiêm ngặt các tiêu chuẩn môi trường: Kiên quyết từ chối các dự án đầu tư sử dụng công nghệ lạc hậu, gây tiêu hao năng lượng và phát thải vượt chuẩn cho phép; ngăn ngừa nguy cơ biến Việt Nam thành bãi thải công nghệ của các nước phát triển.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và công bố bức tranh dữ liệu toàn diện về thực trạng chuyển giao công nghệ tại Việt Nam giai đoạn 1990-2002. Kết quả chính của công trình gắn liền với các số liệu thực chứng cụ thể:

  • Lượng hóa mức độ tụt hậu công nghệ của Việt Nam so với thế giới (50-100 năm) và khu vực (điểm đánh giá 1,9/5, xếp thứ 7/10 nước ASEAN và xếp thứ 9/10 về năng lực bắt kịp láng giềng).
  • Chỉ rõ mức độ tiêu hao năng lượng vượt tiêu chuẩn từ 110% đến 250% tại hầu hết các ngành sản xuất truyền thống, cùng hiệu suất sử dụng điện năng lãng phí ở các ngành vật liệu cơ bản (xi măng gấp 1,4 lần, gạch chịu lửa gấp 2,5 lần, luyện thép gấp 1,7 lần).
  • Cung cấp dữ kiện kiểm toán về tình trạng khai khống giá trị công nghệ và thiết bị trong khối FDI (điển hình là 6/12 đơn vị bị phát hiện chênh lệch 14 triệu USD qua giám định của SGS; thiệt hại 50 triệu USD tại 42 liên doanh thuộc Bộ Công nghiệp).
  • Ghi nhận các