CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC 1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động gia công xuất khẩu 1.1 Khái niệm hoạt động gia công xuất khẩu Gia công xuất khẩu (còn gọi là gia công quốc tế) là một hoạt động kinh doanh thương mại. Trong đó, bên đặt gia công sẽ cung cấp nguyên liệu, định mức, tiêu chuẩn kỹ thuật cho bên nhận gia công tiến hành sản xuất, sau đó giao lại sản phẩm và nhận khoản tiền phí gia công đã thỏa thuận truớc đó. Bên Đặt Gia Công (Bên A) Thành Phẩm 4 K h 1 ẩ 5 u 3 k Nguyên phụ h ẩ liệu, sản phẩm Bên Nhận Gia u Công 2 chưa hoàn chỉnh (Bên B) Hình 1.1 Sơ đồ hoạt động gia công xuất khẩu Giải Thích: 1. Bên A cung cấp nguyên phụ liệu hoặc sản phẩm chưa hoàn chỉnh cho bên B thông qua xuất khẩu.
Bên B nhập khẩu Nguyên phụ liệu hoặc sản phẩm chưa hoàn chỉnh vào để tiến hành sản xuất. Khi đã hoàn chỉnh sản phẩm (thành phẩm), bên B tiến hành giao hàng cho bên A thông qua xuất khẩu. Bên A nhập khẩu hàng thành phẩm. Bên A chi trả phí gia công cho bên B.
NGUYỄN VĂN TRÃI SVTH: HUỲNH THỊ LIỄU Bên đặt gia công có thể giao toàn bộ nguyên vật liệu hoặc chỉ nguyên vật liệu chính hoặc sản phẩm chưa hoàn chỉnh, có khi gồm cả máy móc thiết bị, chuyên gia cho bên nhận gia công. Trong trường hợp không giao nhận nguyên vật liệu chính thì bên đặt gia công có thể chỉ định cho bên kia mua nguyên vật liệu ở một địa điểm nào đó với giá cả được ấn định từ trước hoặc thanh toán thực tế trên hóa đơn. Còn bên nhận gia công có nghĩa vụ tiếp nhận hoặc mua nguyên vật liệu, sau đó tiến hành gia công, sản xuất theo đúng yêu cầu của bên đặt gia công cả về số lượng chủng loại, mẫu mã, thời gian. Sau khi hoàn thành quá trình gia công thì giao lại sản phẩm cho bên đặt gia công và nhận một khoản phí gia công theo thỏa thuận từ trước.2 Đặc điểm của hoạt động gia công xuất khẩu hàng may mặc - Trong gia công quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất.
- Hoạt động gia công được hưởng ưu đãi về thuế, về thủ tục xuất nhập khẩu. - Quyền sở hữu hàng hóa không thay đổi từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công. Có nghĩa là, tuy hàng hóa đã giao cho bên nhận gia công nhưng bên đặt gia công vẫn có quyền sở hữu hàng hóa đó. - Mối quan hệ giữa bên đặt gia công với bên nhận gia công được xác định trong hợp đồng gia công.
Trong quan hệ hợp đồng gia công, bên nhận gia công sẽ chịu mọi chi phí và rủi ro trong quá trình sản xuất gia công. - Trong hợp đồng gia công người ta quy định cụ thể các điều kiện thương mại như về thành phẩm, về nguyên liệu, về giá cả gia công, về nghiệm thu, về thanh toán, về việc giao hàng. - Trong quan hệ gia công bên nhận gia công sẽ thu được một khoản tiền gọi là phí gia công, còn bên đặt gia công sẽ mua lại toàn bộ thành phẩm được sản xuất trong quá trình gia công. - Về thực chất, gia công quốc tế là một hình thức xuất khẩu lao động gián tiếp.
Hàng hóa sản xuất ra không phải để tiêu dùng trong nước mà để xuất khẩu thu ngoại tệ chênh lệch giá phụ liệu cung cấp, tiền công và chi phí khác đem lại. NGUYỄN VĂN TRÃI SVTH: HUỲNH THỊ LIỄU 1.3 Vai trò của hoạt động gia công xuất khẩu hàng may mặc Ngày nay gia công quốc tế là một phương thức khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương của nhiều nước trên thế giới. Nhiều nước đang phát triển nhờ vận dụng phương thức gia công quốc tế mà có được một nền công nghiệp hiện đại, chẳng hạn như Hàn Quốc, Thái Lan, Singapo. Đối với bên đặt gia công - Giúp họ lợi dụng được giá rẻ về nguyên phụ liệu và nhân công của nước nhận gia công.
- Có cơ hội chuyển giao công nghệ để kiếm lời. Đối với bên nhận gia công - Phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân trong nước. - Khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên phong phú của đất nước. - Đặc biệt, gia công quốc tế không những cho phép chuyên môn hóa với từng sản phẩm nhất định mà còn chuyên môn hóa trong từng công đoạn, từng chi tiết sản phẩm.
- Tạo điều kiện để từng bước thiết lập nền công nghiệp hiện đại và quốc tế hóa: + Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa. + Nâng cao tay nghề người lao động và tạo dựng đội ngũ quản lý có kiến thức và kinh nghiệm trong việc tham gia kinh doanh trên trị trường quốc tế và quản lý nền công nghiệp hiện đại. + Góp phần tạo nguồn tích lũy với khối lượng lớn. + Tiếp thu những công nghệ quản lý và công nghệ sản xuất hiện đại thông qua chuyển giao công nghệ.
Đối với Việt Nam nhờ vận dụng được phương thức này đã khai thác được mặt lợi thế rất lớn về lao động và đã thu hút được thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và giải quyết được công ăn việc làm cải thiện đời sống nhân dân. Nâng cao tay nghề và kiến thức cho người lao động. Tiếp cận và học hỏi các kiểu quản lý mới, mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng 5 GVHD: TS. NGUYỄN VĂN TRÃI SVTH: HUỲNH THỊ LIỄU cường các mối quan hệ kinh tế đối ngoại với các nước, góp phần thúc đẩy nhanh công việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.4 Các hình thức gia công xuất khẩu Có nhiều cách để phân loại gia công quốc tế như phân loại theo quyền sở hữu nguyên vật liệu trong quá trình gia công, phân loại theo giá cả gia công hoặc phân loại theo công đoạn sản xuất.1 Xét về quyền sở hữu nguyên liệu o Phương thức nhận nguyên vật liệu, giao thành phẩm Bên đặt gia công giao cho bên nhận gia công nguyên phụ liệu, có khi cả các thiết bị máy móc kỹ thuật phục vụ cho quá trình gia công.
Bên nhận gia công tiến hành sản xuất gia công theo yêu cầu và giao thành phẩm, nhận phí gia công. Trong quá trình sản xuất gia công, bên đặt gia công vẫn có quyền sở hữu nguyên phụ liệu của mình. - Nguyên Bên đặt gia công phụ liệu Bên nhận gia công - Máy móc thiết bị Thuộc quyền sở hữu Không thuộc quyền sở hữu Ở nước ta, hầu hết đang áp dụng phương thức này. Do trình độ kỹ thuật máy móc trang thiết bị của ta còn lạc hậu, chưa đủ điều kiện để cung cấp nguyên phụ liệu, thiết kế mẫu mã.
nên việc phụ thuộc vào nước ngoài là điều không thể trách khỏi trong hoạt động gia công xuất khẩu. Tuy nhiên trong thực tế, bên đặt gia công có thể chỉ giao một phần nguyên phụ liệu, còn lại họ giao cho phía nhận gia công tự đặt mua tại các nhà cung cấp mà họ đã chỉ định sẳn trong hợp đồng. NGUYỄN VĂN TRÃI SVTH: HUỲNH THỊ LIỄU o Phương thức mua đứt, bán đoạn Bên đặt gia công dựa trên hợp đồng mua bán, bán nguyên phụ liệu cho bên nhận gia công với điều kiện sau khi sản xuất bên nhận gia công phải công phải bán lại toàn bộ sản phẩm cho bên đặt gia công. Như vậy, ở phương thức này có sự chuyển giao quyền sở hữu về nguyên phụ liệu từ phía đặt gia công sang phía nhận gia công.
- Nguyên Bên đặt gia công phụ liệu Bên nhận gia công - Máy móc thiết bị Thuộc quyền sở hữu Không thuộc quyền sở hữu Sự chuyển đổi này làm tăng quyền chủ động cho phía nhận gia công trong quá trình sản xuất và định giá sản phẩm gia công. Ngoài ra, việc tự cung cấp một phần nguyên liệu phụ của bên nhận gia công đã làm tăng giá trị xuất khẩu trong hàng hóa hóa xuất khẩu, nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động gia công. o Phương thức kết hợp Đây là phương thức phát triển cao nhất của hoạt động gia công xuất khẩu, được áp dụng khi trình độ kỹ thuật, thiết kế mẫu mã của ta đã phát triển cao. Khi đó bên đặt gia công chỉ giao mẫu mã và các thông số kỹ thuật của sản phẩm.
Còn bên nhận gia công tự lo nguyên vật liệu, tự tổ chức quá trình sản xuất gia công theo yêu cầu của bên đặt gia công. Trong phương thức này, bên nhận gia công hầu như chủ động hoàn toàn trong quá trình gia công sản phẩm, phát huy được lợi thế về nhân công cũng như công nghệ sản xuất nguyên phụ liệu trong nước. NGUYỄN VĂN TRÃI SVTH: HUỲNH THỊ LIỄU 1.2 Xét về mặt giá cả gia công o Hợp đồng thực chi, thực thanh Trong phương thức này người ta quy định, bên nhận gia công chi bao nhiêu cho việc gia công, thì bên đặt gia công thanh toán bấy nhiêu cộng thêm tiền thù lao gia công. Đây là phương thức gia công mà người nhận gia công được quyền chủ động trong việc tìm các nhà cung cấp nguyên phụ liệu cho mình.
o Hợp đồng khoán gọn Trong phương thức này, người ta xác định một giá định mức cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức. Dù chi phí thực tế của bên nhận gia công là bao nhiêu đi nữa, hai bên vẫn thanh toán với nhau theo giá định mức đó. Đây là phương thức gia công mà bên nhận phải tính toán một cách chi tiết các chi phí sản xuất về nguyên phụ liệu nếu không sẽ dẫn đến thua thiệt.3 Xét về số bên tham gia quan hệ gia công o Gia công hai bên Hoạt động gia công chỉ bao gồm một bên đặt gia công và một bên nhận gia công. o Gia công nhiều bên: còn gọi là gia công chuyển tiếp Trong đó bên nhận gia công là một số doanh nghiệp, mà sản phẩm gia công của đơn vị trước là đối tượng gia công của đơn vị sau, và bên đặt gia công có thể chỉ có một và có thể nhiều hơn một.
Phương thức này chỉ thích hợp với trường hợp gia công mà sản phẩm gia công phải sản xuất qua nhiều công đoạn. Đây là phương thức gia công tương đối phức tạp mà các bên nhận gia công cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau thì mới bảo đảm được tiến độ mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng gia công. NGUYỄN VĂN TRÃI SVTH: HUỲNH THỊ LIỄU 1.