chương 1, tác giả trình bày tổng quan về các khái niệm liên quan, vai trò và ý nghĩa tạo động lực trong hoạt động quản trị nguồn nhân lực, các lý thuyết về động lực làm việc của người lao động trong tổ chức, các nghiên cứu khoa học về động lực làm việc của người lao động. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất mô hình và xây dựng thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công nhân viên công ty Olympus Việt Nam. Khái quát về động lực và tạo động lực làm việc của người lao động: 1. Khái niệm động lực Bartol và Martin (1998) cho rằng: “Động lực liên quan đến việc kích thích hành vi, cung cấp hướng cho hành vi, và là cơ sở cho xu hướng chiếm ưu thế.
Nói cách khác, cá nhân phải được kích thích và tràn đầy nhiệt huyết, phải có mục tiêu rõ ràng và sẵn lòng cam kết quyết tâm nỗ lực trong một khoảng thời gian dài để đạt được mục tiêu của mình”. Theo các tác giả, động lực là một công cụ mạnh mẽ củng cố hành vi và kích hoạt những xu hướng tiếp tục. Nói cách khác, động lực là năng lực nội bộ để thỏa mãn nhu cầu bản thân nhằm đạt mục tiêu nhất định. Động lực bắt đầu thông qua nhu cầu sinh lý hoặc tâm lý mà nó kích thích và làm gia tăng khả năng đạt mục tiêu.
So với các nguồn lực về tài chính, nguồn nhân lực tạo nên lợi thế cạnh tranh cho tổ chức. Nói cách tổng quát, hiệu suất làm việc của nhân viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự hài lòng trong công việc, chính sách đào tạo và phát triển, và quan trọng là yếu tố động lực làm việc vì nó có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất làm việc tại tổ chức Theo Kalimullah (2010) đã gợi ý, một nhân viên biết tạo động lực làm việc khi gắn mục tiêu của chính mình phù hợp với mục tiêu của tổ chức đề ra. Nhân viên biết cải tạo hiệu suất làm việc của mình sẽ góp phần tạo nên thành công cho doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Mặt khác, Mary (1996) giải thích một tổ chức hoạt động hiệu quả khi biết sử dụng các nguồn lực sẵn có và biết tạo động lực làm việc cho nhân viên.
Tổ chức thực hiện mục tiêu của mình bằng cách sử dụng các nguồn lực nhất định và không gây căng thẳng cho các thành viên. Theo Kanfer (1990), động lực được coi là tác nhân ảnh hưởng đến mức độ nỗ lực, sự kiên trì và là sự khởi đầu của mọi hành vi. Theo Robbins (1998), động lực làm việc (work motivation) được định nghĩa là “Sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ”. Ngoài ra, “động lực thể hiện quá trình tâm lý tạo ra sự thức tỉnh, định hướng, và kiên trì thực hiện của các hoạt động tự nguyện nhằm đạt mục tiêu (Mitchell, 1982).
Hay nói cách khác động lực là lý do hoặc là các lý do mà nhân viên làm việc, duy trì làm việc và đóng góp tích cực cho môi trường làm việc của mình. Để đạt được mục tiêu, cá nhân cần hiểu rõ những gì họ đạt được, cần phải được khuyến khích và có nhiệt tình, tự nguyện cam kết để đạt mục tiêu. Động lực làm chúng ta chuyển từ trạng thái chán nản thành thích thú (Islam và Ismail, 2008). Theo Kreitner và Kinicki (2004) cho rằng: “Động lực kết hợp những quá trình tâm lý tạo ra sự kích động, hướng và kiên trì của các hành động tự nguyện hướng tới mục tiêu”.
Khá khác biệt với một số các định nghĩa khác, Locke và Latham (2004) đã xác định rằng: Động lực ảnh hưởng đến việc đạt được các kỹ năng và mức độ sử dụng khả năng của họ. Theo các tác giả, khái niệm động lực đề cập đến các yếu tố bên trong tác động lên hành động và các yếu tố bên ngoài có thể đóng vai trò là động lực để hành động. Ba khía cạnh của hành động mà động lực có thể ảnh hưởng đó là hướng (lựa chọn), cường độ (nỗ lực) và thời gian (tính bền bỉ). Động lực có thể ảnh hưởng đến cả việc đạt được các kỹ năng và khả năng, cũng như mức độ sử dụng các kỹ năng và khả năng của họ (Locke và Latham, 2004).
Theo Herzbeg (1959) trong tác phẩm “The motivation to work” định nghĩa rằng “Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt tới mục tiêu của tổ chức”. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Theo Nguyễn Vân Điềm – Nguyễn Ngọc Quân (2007)“Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”. Theo Trần Kim Dung, Nguyễn Ngọc Lan Vy (2011) cho rằng “động lực thúc đẩy là xu hướng và sự cố gắng nhằm đạt được mong muốn hoặc mục tiêu nhất định”. Như vậy, động cơ thúc đẩy ngụ ý xu thế đi tới một kết quả.
Theo các định nghĩa trên, có thể xem rằng động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động. Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức. Động lực làm việc được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và thông qua thái độ của họ đối với tổ chức. Điều này có nghĩa không có động lực làm việc chung cho mọi nhân viên.
Mỗi nhân viên đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực làm việc được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. Khái niệm tạo động lực cho người lao động Theo Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2007), tạo động lực làm việc cho người lao động là tất cả những hoạt động mà doanh nghiệp có thể thực hiện được đối với người lao động, tác động đến khả năng làm việc, tinh thần, thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động. Tạo động lực gắn liền với lợi ích hay nói cách khác là lợi ích tạo ra động lực trong lao động.
Song trên thực tế động lực được tạo ra ở mức độ nào, bằng cách nào điều đó phụ thuộc vào cơ chế cụ thể để sử dụng nó như là một nhân tố cho sự phát triển của xã hội. Muốn lợi ích tạo ra động lực phải tác động vào nó, kích thích nó làm gia tăng hoạt động có hiệu quả của lao động trong công việc, trong chuyên môn hoặc trong những chức năng cụ thể. Theo Lê Thanh Hà (2009) cho rằng: “Tạo động lực là xây dựng và thực thi một hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản trị tác động đến người lao động TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 khiến cho người lao động yêu thích và sáng tạo hơn trong công việc để đạt được kết quả tốt nhất có thể đối với mỗi nhiệm vụ cụ thể được giao” Theo Lương Văn Úc (2010), “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc”. Đối với người lao động, quá trình lao động ở tổ chức luôn có xu hướng bị nhàm chán, bị tác động bởi các yếu tố trong quan hệ lao động và quan hệ xã hội.
Do vậy, tinh thần thái độ và tích cực của họ có xu hướng giảm sút và tất yếu họ sẽ tìm cách rời khỏi tổ chức. Do đó, tổ chức cần sử dụng đúng đắn các biện pháp kích thích động lực lao động để người lao động luôn hăng hái, tích cực, có tinh thần trách nhiệm cao. Vậy thực chất của tạo động lực chính là việc xác định các nhu cầu của người lao động, thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của người lao động làm tăng thêm lợi ích cho họ để họ có thể làm việc tích cực, tự giác, sáng tạo và hiệu quả nhất. Vai trò của tạo động lực trong quản trị nguồn nhân lực Theo Mai Quốc Chánh (2011), tạo động lực làm việc cho nhân viên có vai trò quan trọng trong hoạt động quản trị nguồn nhân lực tại doanh nghiệp, cụ thể như sau: 1.
Đối với bản thân nhân viên Người lao động có hứng thú trong công việc: Được làm việc với sự thoải mái làm cho người lao động có được trạng thái tinh thần tốt, không bị căng thẳng thần kinh, không ảnh hưởng tới sức khỏe từ đó họ có thể khám phá ra được niềm vui trong công việc. Tái tạo sức lao động cho người lao động: Khi người lao động được nhận phần khuyến khích về vật chất là tiền thưởng thì đây cũng là một khoản tiền giúp tái tạo sức lao động, họ có thể sử dụng nó vào việc nghỉ ngơi hoặc mua sắm những thứ họ cần, điều này cũng làm cho người lao động có tinh thần tốt hơn và muốn nhận được thêm những phần thưởng đó họ càng phải cố gắng. Cùng với sự cố gắng của người lao động là hiệu quả công việc ngày một nâng cao, chính nhờ sự cố gắng của mỗi người lao động đã tạo nên môi trường làm việc năng động, hiệu quả, điều này tác TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 động vào người lao động khiến họ được cống hiến sức lao động trong môi trường chuyên nghiệp, con người sẽ được phát triển, năng động và sáng tao hơn. Trong khi người lao động đang cố gắng để tạo thêm thu nhập cho mình thì họ cũng đã làm cho môi trường làm việc của họ ngày càng tốt hơn.
Mỗi người sẽ có trách nhiệm với công việc hơn và thi đua nhau cùng cố gắng. Đối với tổ chức Tăng năng suất lao động: Người lao động có động lực làm việc thì họ sẽ cố gắng hoàn thành công việc được giao và có thể sáng tạo ra một số biện pháp cải tiến kỹ thuật, thao tác làm việc dẫn đến năng suất lao động được tăng lên. Từ đó tăng doanh thu và lợi nhuận cho tổ chức. Ổn định hoạt động sản xuất – kinh doanh: Khi người lao động được thỏa mãn nhu cầu thì họ sẽ yên tâm làm việc cho tổ chức từ đó hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ổn định.