CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NHÂN VIÊN 1.1 Khái niệm về động lực và tạo động lực Thời gian trước đây, người lao động chỉ được coi là đầu vào cho lĩnh vực sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Nhưng sau đó, một số nghiên cứu Hawthorne, được tiến hành bởi Elton Mayo 1924-1932 (Dickson, 1973), đã chứng minh nhân viên không chỉ có động lực duy nhất là tiền bạc mà hành vi của nhân viên có liên quan đến thái độ của họ (Dickson, 1973). Các nghiên cứu Hawthorne đã bắt đầu chỉ ra các mối quan hệ ở con người để quản lý, theo đó nhu cầu và động lực của nhân viên trở thành trọng tâm chính cần quan tâm theo dõi của các nhà quản lý (Bedeian, 1993).1 Động lực Theo Pinder (1988), động lực được định nghĩa như là một tiến trình gồm các yếu tố hay động cơ cả bên trong và bên ngoài của một cá nhân tác động đến việc định hướng và duy trì những hành động của cá nhân đó để theo đuổi và hoàn thành mục tiêu nào đó. Động lực làm việc được định nghĩa là “Sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ” (Robbin, 1998).
“Động lực thể hiện quá trình tâm lý tạo ra sự thức tỉnh, định hướng và kiên trì thực hiện các hoạt động tự nguyện nhằm đạt mục tiêu” (Mitchell, 1982). Như vậy, những khái niệm về động lực cho thấy động lực là những điều tác động đến hành vi của một người, là một nguyên nhân của hành vi, hoặc là những lý do của hành vi cá nhân. Có thể nhận ra động lực làm việc là những lý do xuất phát từ sự mong muốn, khao khát dẫn đến việc định hướng hành động và duy trì hành động mang tính chất tự nguyện từ bản thân nhân viên trong quá trình làm việc tại tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra, đóng góp tích cực cho môi trường làm việc của mình. Để đạt được mục tiêu, cá nhân cần hiểu rõ những gì họ đạt được, cần phải được khuyến khích và có nhiệt tình, tự nguyện cam kết để đạt mục tiêu (Trần Kim Dung và Nguyễn Ngọc Lan Vy, 2011).
Động lực làm chúng ta chuyển từ trạng thái chán nản thành thích thú (Islam và Ismail, 2008). Động lực là một trạng thái phức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 tạp diễn ra bên trong nhưng có tác động mạnh mẽ đến hành vi bên ngoài. Nếu không có động lực, con người sẽ không có hành vi có tổ chức, hành vi có mục đích trong công việc hay trong tất cả các lĩnh vực khác. Daft (2005) nhận thấy động lực làm việc không chỉ là sức mạnh bên trong mà còn bao gồm cả nguồn sức mạnh bên ngoài để duy trì những hành động cho đến khi đạt được mục tiêu.
Dựa trên quan điểm này, ta có thể chia động lực thành hai yếu tố cấu thành: Động lực nội tại và động lực bên ngoài. Động lực nội tại gồm các nhu cầu về hoàn thành công việc, thành công và hài lòng về công việc hiện tại. Nguồn động lực này thể hiện mong muốn làm tốt công việc cá nhân nhằm thỏa mãn chính mình. Họ cố gắng làm việc tốt không vì mục tiêu đạt được phần thưởng từ tổ chức mà vì mục tiêu đạt phần thưởng cho chính mình.
Cá nhân có động lực làm việc khi họ muốn tìm kiếm niềm vui, mối quan tâm, thỏa mãn trí tò mò, tự thể hiện và tìm kiếm thử thách trong công việc (Amabile, 1993). Deci (1975) cho rằng cá nhân muốn làm việc để hiểu được khả năng của bản thân và cảm thấy tự quyết trong công việc. Trong khi đó, nguồn động lực bên ngoài được thúc đẩy bởi các yếu tố và các nguồn từ bên ngoài nhằm kích thích hiệu quả làm việc của cá nhân (Amabile, 1993). Những yếu tố thuộc nguồn động lực bên ngoài này có thể là phần thưởng, phản hồi công việc, lương bổng, hoạt động giám sát, yêu cầu công việc và sự thăng tiến.2 Tầm quan trọng của việc tạo động lực cho nhân viên Tại sao chúng ta cần nhân viên có động lực? Câu trả lời là sự sống còn.
Động lực của nhân viên là điều cần thiết trong môi trường làm việc, vốn luôn được đổi mới với tốc độ khá nhanh chóng tại các công ty hay tổ chức. Nhân viên có động lực làm việc sẽ tạo thành tích cao hơn, từ đó là tiền đề giúp tổ chức tồn tại. Để có được hiệu quả như mong muốn, các nhà quản lý cần phải hiểu những gì thúc đẩy người lao động dựa theo bối cảnh và vai trò của từng yếu tố tạo ra sự thúc đẩy này. Tạo động lực làm việc cho nhân viên là một chủ đề phức tạp và không hề đơn giản.
Tuy nhiên, các nhà quản lý hiện đại phải đối mặt và cần đưa ra những chương trình ứng phó với chủ đề này để đem lại sự thành công nhất định nào đó cho tổ chức. Các tổ chức ngày nay đang hoạt động theo chủ trương cắt giảm chi phí, tăng hiệu quả sinh lợi trên mỗi đồng vốn bỏ ra cùng với việc loại bỏ những cá nhân làm việc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 không hiệu quả. Tuy nhiên, điều vô cùng quan trọng đối với các tổ chức là khai thác được tối đa năng lực của nhân viên trong khi vẫn duy trì được sự hài lòng của họ đối với công việc. Việc giữ được những nhân viên tài năng gắn kết lâu dài với tổ chức có thể là điểm khác biệt giữa việc dẫn đầu thị trường và bị loại khỏi việc kinh doanh.
Trong khi các tổ chức cố gắng cắt giảm chi tiêu để hạ chi phí vận hành thì công tác quản lý nhằm tạo động lực cho những nhân viên hàng đầu đang trở thành một phần thưởng lớn hơn cho các tổ chức. Theo Bessell và các cộng sự (2002), người quản lý sử dụng động cơ tại nơi làm việc để truyền cảm hứng cho mọi người cùng làm việc, cả theo khía cạnh cá nhân và theo nhóm để đem đến kết quả tối ưu và năng suất lý tưởng cho doanh nghiệp. Động lực làm việc có tầm ảnh hưởng quan trọng đến hành vi của nhân viên trong tổ chức theo những cách, có thể quyết định đến sự thành công hay thất bại cuối cùng của một tổ chức. Kovach (1987) cho thấy rằng nếu bộ phận quản lý của công ty biết tại sao người lao động của mình tuân thủ làm việc đúng giờ, đạt hiệu quả và năng suất cao, đồng thời có tinh thần gắn bó lâu dài với công ty của họ thì khi ấy công ty có thể đảm bảo rằng tất cả các nhân viên của họ đều hành động theo cách đó.
Một công ty như vậy sẽ có lợi thế quyết định về sự tồn tại trên thị trường hơn đối thủ cạnh tranh khi không phải đối mặt với tình trạng nhân viên nghỉ việc, sau đó phải tốn kém chi phí đáng kể cho các chương trình tuyển dụng và đào tạo lại nhân viên mới, đồng thời còn bị ảnh hưởng bởi sự gián đoạn, chậm trễ trong công việc và sản xuất. Hơn nữa, Wiley (1997) cũng cho thấy một công ty sẽ có khả năng phát triển và thành công cao hơn so với các công ty khác nếu công ty này trong quá trình sử dụng nguồn lao động hiểu được điều gì thúc đẩy nhân viên của họ. Đây vốn được xem là căn nguyên, nguồn gốc cho việc nâng cao hiệu suất làm việc ở nhân viên. Các kiến nghị được nêu ra thường nhấn mạnh sự thành công của tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào động lực làm việc của nhân viên và các nhà quản lý phải hiểu điều gì đã và đang tạo đòn bẩy cho động lực ấy, khi ấy họ mới quyết định triển khai các chính sách nhằm khuyến khích và tăng sức bật cho nhân viên.
Để giữ chân những tài năng tuyệt vời, các tổ chức cần tập trung vào những gì khiến cho người lao động làm việc tốt và đề cập phần thưởng trong công việc là gì. Bằng cách nhìn nhận này, các nhà quản lý và các chuyên gia LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 phát triển nguồn nhân lực sẽ áp dụng các phương thức phù hợp nhất để tạo ra môi trường làm việc có lợi cho sự phát triển, thích ứng với nhân viên để bản thân họ tự cầu tiến và đổi mới tích cực mà vẫn cảm nhận được niềm vui khi làm việc. Điều này thậm chí còn quan trọng hơn việc đào thải các cá nhân làm việc kém hiệu quả hay o bế các nhân viên nòng cốt mà công ty thường trông cậy vào thành quả của họ. Quan niệm này ngày nay được nhiều công ty, tổ chức coi trọng và áp dụng vào thực tiễn, nhất là trong thời kỳ khó khăn, cạnh tranh khốc liệt và công ty còn nhiều vấn đề phải đối mặt.
Lúc này đây, công ty sẽ tập trung vào việc thúc đẩy nhân viên tự phát triển và làm việc với hiệu quả cao, để có thể đem lại lợi ích và giúp công ty được tồn tại và hưng thịnh.2 Các học thuyết về tạo động lực Theo Bartol và Martin (1998), các học thuyết về tạo động lực làm việc cho nhân viên được chia thành ba nhóm chính: nhóm học thuyết về nhu cầu, nhóm học thuyết về nhận thức và nhóm học thuyết về củng cố.1 Các học thuyết về nhu cầu Điểm chung nhất của các học thuyết về nhu cầu đều cho rằng chính những khao khát được thỏa mãn các nhu cầu khác nhau ở con người đã tạo ra động lực thúc đẩy các cá nhân phải hành động để đạt được sự thỏa mãn này và để hướng nhân viên đến mục tiêu chung của tổ chức, các nhà quản trị có thể tác động đến hành vi của nhân viên thông qua việc thỏa mãn các nhu cầu của họ. Thuyết bậc thang nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Thuyết các bậc thang nhu cầu của Abraham Maslow (Maslow, 1943) được biết đến và sử dụng rộng rãi nhất khi nói về các học thuyết nhu cầu. Theo Maslow, con người có những cấp độ khác nhau về nhu cầu, khi những nhu cầu ở cấp độ thấp được thỏa mãn thì một nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ trở thành động lực thúc đẩy con người phải làm gì đó để thỏa mãn chúng. Bậc thang nhu cầu của Maslow được chia thành năm cấp độ tăng dần bao gồm: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu thể hiện.
Khi một nhu cầu được đáp ứng, một nhu cầu khác sẽ xuất hiện.