Chương 1. Cơ sở lý luận cho việc nâng cao động lực cho người lao động 1.1 Các quan niệm về người lao động Ngành kinh tế học quan niệm con người là người lao động, là yếu tố sản xuất có giá trị tương đương với tiền vốn, đất đai, nhưng rốt cuộc lại không phải là tiền vốn mà cũng chẳng phải là đất đai. Con người có tư tưởng, có sức sống, có khả năng nhận thức và cải tạo thế giới khách quan. Tìm hiểu và nắm vững con người chính là tố chất cơ bản cần có của người lãnh đạo.
Từ khi ngành quản lý học ra đời, các nhà quản lý học trong những giai đoạn lịch sử khác nhau có những nhận thức khác nhau về con người. Cách nhìn nhận con người khác nhau sẽ quyết định phương thức quản lý khác nhau, hình thức khích lệ khác nhau mà người quản lý lựa chọn. Lý luận thứ nhất cho rằng người lao động là người làm thuê Chủ nghĩa tư bản cho con người quyền tự do cá nhân, nhưng đối với người lao động thì tự do lại biến thành bán sức lao động của mình. Bởi vì người lao động là người không có gì trong tay, bị tước đoạt tư liệu sản xuất và nguồn sống, nếu không bán sức lao động thì lấy gì để tồn tại.
Các nhà tư bản có thể dùng tiền để mua sức lao động, cũng giống như mua một mặt hàng nào đó. Sở dĩ các nhà tư bản mua sức lao động là vì trong quá trình người lao động kết hợp với tư liệu sản xuất sẽ tạo ra giá trị lớn hơn giá phải mua ban đầu và giá trị thặng dư cũng cung cấp cho nhà tư bản sử dụng. Trong các doanh nghiệp thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản, người lao động chẳng qua chỉ là một người làm thuê, một công cụ biết nói mà thôi. Để khai thác triệt để giá trị thặng dư, các nhà tư bản đã sử dụng những thủ đoạn độc ác để kiểm soát Phạm Thị Mai Lan Lớp: Quản lý công 46 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 7 người lao động, ví như tăng cường độ lao động, kéo dài thời gian lao động, trả tiền lương ít, phạt nặng.
Trong con mắt người quản lý hoặc ông chủ các doanh nghiệp thời đó, những người đi làm thuê là những người tham ăn lười làm, thích ngồi chơi xơi nước. Hình thức quản lý đối với những người làm thuê này chỉ bằng cách áp chế, ra lệnh, trừng phạt thì mới có thể hoàn thành công việc, nếu không họ sẽ không chịu nghe lời, lười biếng, làm sai làm hỏng, thậm chí còn cãi lộn. Cách nhìn nhận của người quản lý đối với nhân viên như vậy được gọi là “ lý luận X ”. Giả thiết của lý luận X là: - Cách đối xử: cho rằng tất cả đều là người xấu.
- Xu hướng: Nói chung mọi người đều là người xấu - Vì người lao động không thích làm việc, một trong những hình thức nhằm đạt mục tiêu quản lý là phải tăng cường dùng vũ lực, áp chế, ra lệnh và trừng phạt để uy hiếp người lao động Những người quản lý lựa chọn lý luận X, họ cảnh giác với mọi hành động của nhân viên và cấp dưới, họ rất thận trọng với tất cả nhân viên. Nếu cấp dưới không tuân theo những mệnh lệnh của họ thì sẽ bị trừng phạt nặng nề. Với cách đối xử với nhân viên như vậy, chính nhà quản lý đã làm mai một tính tích cực, tính chủ động và tính sáng tạo của người lao động. Mối quan hệ giữa người quản lý và người lao động cực kỳ căng thẳng, người lao động coi công việc như là phương tiện kiếm sống mà thôi, còn người quản lý thì lúc nào cũng chỉ tìm cách kiểm soát người lao động.
Tất nhiên cũng có ý kiến cho rằng những người lao động này rất dễ quản lý. Bởi vì, thứ nhất họ không có trình độ văn hóa; thứ hai họ không có Phạm Thị Mai Lan Lớp: Quản lý công 46 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 8 tiền nên rất dễ thuyết phục, rất dễ đáp ứng nhu cầu, chỉ cần đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của họ như nhu cầu ăn mặc là có thể bắt họ làm việc. Vì vậy ở một số nơi, mặc dù các ông chủ rất thô bạo, thậm chí hay đánh chửi người lao động, nhưng vì ở đó thu nhập tốt nên rất nhiều người lao động chịu nhẫn nhục, thậm chí còn phải liều mạng đến làm việc, bán sức lao động, đổ máu để kiếm tiền. Lý luận thứ hai cho rằng người lao động là nhà kinh tế Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hiện đại hóa, các nhà quản lý học cho rằng, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn rất thịnh hành của giới doanh nghiệp.
Giới doanh nghiệp bắt đầu tiếp nhận giả thiết liên quan đến người lao động “ nhà kinh tế ” do các nhà quản lý học đưa ra. Trong đó quan điểm về “ nhà kinh tế ” của Taylor là một điển hình. Taylor cho rằng mục đích của các doanh nghiệp là thu được lợi nhuận cao nhất, còn mục đích của người lao động là có thu nhập cao, do đó muốn phát huy tinh thần tích cực của người lao động thì phải đáp ứng đầy đủ nhu cầu của họ. Ví dụ, để có thể điều khiển công việc của người lao động có hiệu quả hơn so với bình thường thì cần phải khích lệ người lao động làm việc chăm chỉ, chấp hành mệnh lệnh, chịu sự quản lý của người lãnh đạo.
Kết quả là người lao động sẽ nhận được chế độ đãi ngộ tốt và tiền lương cao; chủ lao động thì cũng tăng được lợi nhuận, thuận tiện trong quản lý. Đối với giả thiết về “ nhà kinh tế ” người quản lý doanh nghiệp đã trở thành tiêu chuẩn làm việc đầu tiên, hơn nữa có thể tiến hành phân tích, xác nhận và lựa chọn những người lao động phù hợp với yêu cầu trong một khoảng thời gian, sau đó đào tạo thêm để đạt được mục tiêu của công việc, cuối cùng là đưa ra hình thức khen thưởng để phát huy tính tích cực của người lao động, làm cho họ chấp hành mệnh lệnh, giúp họ nâng cao hiệu suất công việc. Phạm Thị Mai Lan Lớp: Quản lý công 46 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 9 Một nhà máy có hiệu quả kinh tế cao ở Trung Quốc chủ yếu sử dụng hình thức tính lương theo định mức. Từ khi bắt đầu tuyển công nhân vào làm việc ở nhà máy, họ đã sắp xếp mức lương hợp lý cho mỗi người và đặt ra cho mỗi người một định mức công việc, nếu công nhân không hoàn thành định mức thì tiền lương sẽ rất thấp, nếu hoàn thành thì sẽ đảm bảo mức tiền lương cơ bản, nếu vượt định mực sẽ tính theo phần trăm vượt định mức.
Với biện pháp này, ngay trong thời kỳ đầu đã phát huy tối đa tinh thần tích cực của công nhân, đối với những công nhân thành thạo được thưởng khi vượt định mức, càng làm cho họ phấn đấu làm thêm giờ thêm việc, còn đối với những công nhân còn non yếu trong nghề thì cũng không chịu thua kém. Người quản lý chỉ việc kiểm tra chất lượng, không cần phải thúc giục, quát tháo công nhân làm việc nữa. Tất nhiên, khi hình thức lao động vẫn còn bị coi là cách để kiếm sống, nếu thu nhập không cao mà lại phải đối mặt với thị trường sản phẩm vật chất phong phú thì những hoạt động của con người sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố kinh tế. Do đó, các doanh nghiệp đã lấy chế độ tiền lương theo sản phẩm và công việc, lương theo định mức làm kinh nghiệm quản lý hàng đầu và phương pháp này rất được phổ biến.
Tất nhiên, khích lệ không chỉ bao gồm tăng lương, thưởng, hay tính lương theo định mức. Lựa chọn biện pháp nào để đáp ứng nhu cầu về kinh tế cho người lao động và nhằm khích lệ người lao động, thì biện pháp nâng lương sẽ cho thấy hiệu quả rõ hơn cả. Tất nhiên, giả thiết “ nhà kinh tế ” đã lấy động cơ kinh tế để quản lý người lao động, đó là một quan điểm tiến bộ và sáng tạo. Giả thiết này đã tạo nên một hình thức quản lý, đó là doanh nghiệp nên lấy tiền lương để làm nguồn động viên cho người lao động và nâng hiệu suất lao động, đồng thời Phạm Thị Mai Lan Lớp: Quản lý công 46 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 1 0 dựa vào quyền hạn và quy định để lãnh đạo nhân viên.
Điều quan trọng trong công tác quản lý là nâng cao hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ. Đặc trưng của quản lý là xác định phạm vi công việc, tăng cường các biện pháp và quy định trong quản lý. Dùng hình thức khen thưởng bằng tiền để khích lệ nhân viên và có hình thức kỷ luật thích đáng đối với những người có thái độ tiêu cực. Lý luận thứ ba cho rằng người lao động là của xã hội Những năm 30 của thế kỷ XX là giai đoạn làm thay đổi cái nhìn phiến diện của người quản lý đối với người lao động trước đây “ người lao động chẳng qua chỉ là một chủ thể kinh tế mà thôi ”.
Chế độ tiền lương, điều kiện làm việc cho người lao động và hiệu quả sản xuất không có mối quan hệ trực tiếp, giai đoạn này công nhận rằng nhân viên trong công ty không chỉ là con người của kinh tế mà là một thực thể của xã hội, là “ con người của xã hội ” và từ đó đã hình thành hàng loạt các hình thức quản lý đối với con người của xã hội. Theo nghiên cứu thực tế trong giai đoạn này cho thấy, người quản lý đã chú ý đến việc nếu đáp ứng được những nhu cầu mang tính xã hội có khả năng khích lệ người lao động mạnh mẽ hơn cả thu nhập riêng cho người lao động. Tất cả mọi người trong xã hội đều nhận thức được rằng, chỉ cần coi trọng lợi ích tập thể thì sẽ đảm bảo được lợi ích cá nhân. Một vị lãnh đạo của doanh nghiệp Nhật Bản đã hỏi nhân viên rằng nếu nhà bạn và công ty cùng bị cháy một lúc thì bạn sẽ chữa cháy ở đâu trước? Nhân viên đều nói rằng sẽ chữa cháy cho công ty trước, bởi vì còn nhà máy thì không lâu sẽ lại có nhà riêng, nếu không còn nhà máy thì đến cái nhà nhỏ cũng không thể có được, đó là quan niệm “ dòng sông lớn sẽ làm đầy hồ nước nhỏ ”.