CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm dịch vụ thanh toán quốc tế Quan hệ quốc tế giữa các nuớc bao gồm nhiều lĩnh vực nhu kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch.trong đó quan hệ kinh tế (mà chủ yếu là ngoại thuơng) chiếm vị trí chủ đạo, là cơ sở cho các quan hệ quốc tế khác tồn tại và phát triển. Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫn đến nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nuớc khác nhau, từ đó hình thành và phát triển hoạt động TTQT, trong đó, ngân hàng là cầu nối trung gian giữa các bên.
Từ phân tích trên ta đi đến khái niệm: “TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức cá nhân nước này với các tổ chức cá nhân nước khác hay giữa một quốc gia vớt tổ chức quốc tế thông qua quan hệ giữa các Ngân hàng của các nước liên quan.” [1, tr248] Từ định nghĩa trên ta có thể rút ra đuợc rằng Thanh toán quốc tế là 1 chu trình khép kín gồm có 4 chủ thể tham gia gồm nguời mua, nguời bán, ngân hàng nguời mua và ngân hàng nguời bán. Vậy dịch vụ TTQT là 1 phần của thanh toán quốc tế, dành riêng cho ngân hàng. Dịch vụ thanh toán quốc tế chỉ gồm có 2 chủ thể là nguời mua hoặc bán và ngân hàng nguời mua hoặc bán trong đó ngân hàng cung cấp dịch vụ và thu về phí dịch vụ. Vai trò của dịch vụ thanh toán quốc tế 1.
Thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế Trước xu thế kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hóa, các quốc gia đang ra sức phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập; trong bối cảnh đó, TTQT nổi lên như là chiếc cầu nối giữa kinh tế trong nước với phần kinh tế thế giới bên ngoài, có tác dụng bôi trơn và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác. Hoạt động TTQT ngày càng được khẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, mỗi quốc gia đều đặt hoạt động kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yêu trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi nước. TTQT là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau.
Nếu không có hoạt động TTQT thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó tồn tại và phát triển được. Nếu hoạt động TTQT được nhanh chóng, an toàn, chính xác sẽ giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hoá - tiền tệ giữa người mua và người bán một cách trôi chảy và hiệu quả. Về góc độ kinh doanh, người mua thanh toán, người bán giao hàng thể hiện chất lượng của một chu kỳ kinh doanh, phản ánh hiệu quả kinh tế và tài chính trong hoạt động của các doanh nghiệp. Tóm lại, hoạt động TTQT có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, được thể hiện chủ yếu trên các mặt sau: 1.
Bôi trơn và thúc đẩy xuất nhập khẩu của nền kinh tế như một tổng thể. Bôi trơn và thúc đẩy đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp. Thúc đẩy và mở rộng dịch vụ như du lịch, hợp tác quốc tế. Tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính khác.
Thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế. Thanh toán quốc tế đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Trong thời gian gần đây, hoạt động TTQT tại các NHTM Việt Nam được quan tâm đầu tư và phát triển hơn bao giờ hết, như việc đầu tư đào tạo cán bộ chuyên gia TTQT, đầu tư lớn cho công nghệ thanh toán hiện đại, tổ chức lại mạng lưới thanh toán quốc tế trong hệ thống đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Hoạt động TTQT là hoạt động trực tiếp tạo ra một khoản lợi nhuận không nhỏ đóng góp vào lợi nhuận chung của ngân hàng. Thông qua cung cấp dịch vụ TTQT cho khách hàng, các NHTM thu được phí dịch vụ chuyển tiền, phí thanh toán LC, phí bảo lãnh.
Thực tế cho thấy, đối với các NHTM hiện đại, thu nhập từ phí dịch vụ có xu hướng ngày một tăng cả về số lượng và tỷ trọng trong tổng thu nhập của ngân hàng. Đây cũng chính là mục tiêu mà các NHTM luôn vươn tới. Việc nâng cao chất lượng TTQT có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động ngân hàng, nó không chỉ là một nghiệp vụ ngân hàng thuần tuý mà còn đóng vai trò là khâu trung tâm không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh doanh, bổ sung và hỗ trợ các mặt hoạt động nghiệp vụ khác của ngân hàng nên nó gián tiếp tạo ra lợi nhuận từ các mặt hoạt động này. Nhờ đẩy mạnh hoạt động TTQT, các NHTM có thể tăng cường khả năng thu hút vốn ngoại tệ từ việc thực hiện thanh toán thu tiền về cho khách hàng đến việc quản lý nguồn ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng, từ đó đáp ứng được nhu cầu vay và thanh toán bằng ngoại tệ của khách hàng.
Với vai trò là trung gian thanh toán, TTQT góp phần phát triển và đẩy mạnh hoạt động tín dụng, tài trợ xuất nhập khẩu (XNK), kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh và các dịch vụ khác, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước, từ đó tăng qui mô hoạt động và mở rộng thị phần của ngân hàng. Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng mở rộng quan hệ với ngân hàng 6 nước ngoài, tạo được uy tín trên thì trường quốc tế cũng như uy tín đối với khách hàng trong và ngoài nước, một trong những yếu tố quyết định sự thành công của NHTM. Hoạt động TTQT tạo môi trường ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại trên thế giới trong hoạt động ngân hàng. Thông qua việc tham gia nối mạng thông tin và ứng dụng công nghệ cao trong xử lý thông tin giúp cho ngân hàng có thể theo kịp với sự phát triển của thế giới, không bị lạc hậu và thua kém các ngân hàng nước ngoài.
Hoạt động TTQTphát triển góp phần tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong cơ chế thị trường, đồng thời giúp cho hoạt động ngân hàng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và hoà nhập với cộng đồng ngân hàng thế giới. Các phương thức thanh toán quốc tế a. Phương thức chuyển tiền * Khái niệm: Chuyển tiền là phương thức thanh toán quốc tế trong đó khách hàng (người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định. [1,tr288] Có hai hình thức chuyển tiền là chuyển tiền bằng thư (mail transfer, M/T) và chuyển tiền bằng điện (Telegraphic transfer.
Hình thức chuyển tiền bằng điện nhanh nên có lợi cho người xuất khẩu nhưng chi phí cao còn hình thức chuyển tiền bằng thư thì chậm song chi phí lại thấp. * Các bên tham gia: - Người chuyển tiền hay người trả tiền (Remitter): thường là người nhập khẩu, người mua, người mắc nợ, nhà đầu tư, người chuyển kiều hối. Người trả tiền là người yêu cầu ngân hàng chuyển tiền ra nước ngoài. - Người hưởng lợi (Beneficiary): là người xuất khẩu, chủ nợ, người 7 nhận vốn đầu tư, người nhận kiều hối.
do người chuyển tiền chỉ định. - Ngân hàng chuyển tiền (RemittingBank): là ngân hàng phục vụ người chuyển tiền. - Ngân hàng trả tiền (Paying Bank): là ngân hàng trả tiền cho người hưởng lợi và thường là ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền. * Quy trình nghiệp vụ: Sơ đồ 1.
Mô hình thanh toán theo phương thức chuyển tiền giữa các bên tham gia (1) : Sau khi ký kết hợp đồng ngoại thương, nhà xuất khẩu thực hiện việc giao hàng,đồng thời chuyển giao bộ chứng từ như: hoá đơn, vận đơn, bảo hiểm đơn,. cho nhà nhập khẩu. (2) : Sau khi kiểm tra bộ chứng từ (hoặc hàng hoá), nếu quyết định trả tiền thì nhà nhập khẩu viết lệnh chuyển tiền (bằng M/T hay T/T) cùng với uỷ nhiệm chi (nếu có tài khoản) gửi ngân hàng phục vụ mình. (3) : Sau khi kiểm tra chứng từ và các điều kiện chuyển tiền theo qui định, nếu thấy hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, ngân hàng thực hiện trích tài khoản để chuyển tiền và gửi giấy báo Nợ cho nhà nhập khẩu.
(4) : Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh (bằng M/T hay T/T theo yêu cầu của người chuyển tiền) cho ngân hàng đại lý (ngân hàng trả tiền) để chuyển trả cho người hưởng lợi. (5) : Ngân hàng trả tiền ghi có vào tài khoản của người hưởng lợi, đồng 8 thời gửi giấy báo Có cho người hưởng lợi. Như vậy, Thanh toán chuyển tiền là hình thức thanh toán trực tiếp giữa người chuyển tiền và người nhận tiền. Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo uỷ nhiệm để được hưởng hoa hồng và không bị ràng buộc gì cả đối với cả người mua lẫn người bán.
Trong quan hệ mua bán, TTQT, phương thức này chỉ được chọn làm phương tiện thanh toán đối với nhà kinh doanh xuất nhập khẩu, cung ứng dịch vụ có quan hệ thân thiết, tin cậy lẫn nhau, vì khâu thanh toán này dễ làm nảy sinh việc chiếm dụng vốn của người bán, nếu bên mua cố tình dây dưa, kéo dài việc thanh toán. Phương thức nhờ thu: * Khái niệm: “Nhờ thu là phương thức thanh toán, trong đó, bên bán (nhà xuất khẩu) sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình xuất trình bộ chứng từ thông qua Ngân hàng thu hộ cho bên mua (nhà nhập khẩu) để được thanh toán, chập nhận hối phiếu hay chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác ”. [1,tr298] * Các bên tham gia: - Người nhờ thu (Drawer): Là người yêu cầu ngân hàng phục vụ mình (NHNT) thu hộ tiền. - Ngân hàng nhờ thu (Remitting Bank): Là ngân hàng theo yêu cầu của người ủy thác chấp nhận chuyển nhờ thu đến ngân hàng thu hộ.
- Ngân hàng thu hộ (Collecting Bank): Là ngân hàng nhận nhờ thu từ NHNT và thực hiện thu tiền.