MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Hồ chứa nước có tầm quan trọng đặc biệt lớn đối với công tác phòng chống lũ lụt, chống hạn hán đảm bảo cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động của con người. Về mùa mưa hồ chứa góp phần cắt lũ và làm chậm lũ, nước được tích lại trong lòng hồ để cung cấp nước tưới, nước sinh hoạt, giữ gìn môi trường sinh thái về mùa kiệt. Tác dụng của hồ chứa nước là rất lớn, tuy nhiên do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm cho chế độ dòng chảy thay đổi, mưa lớn tập trung vào mùa mưa làm gia tăng lũ lụt nhưng lại giảm về mùa khô gây ra hạn hán kéo dài dẫn đến các hồ chứa nước không còn đảm bảo được mục tiêu như thiết kế ban đầu.
Mặt khác, cùng với việc phát triển của xã hội thì nhu cầu dùng nước tăng lên, mức đảm bảo tưới tăng lên trong khi dung tích hồ chứa vẫn không tăng. Điều đó đặt ra yêu cầu phải nâng cấp hồ chứa để tăng dung tích hữu ích các hồ nhằm đảm bảo nhu cầu cấp nước. Đập đất là một hạng mục của được xây dựng rất phổ biến do có nhiều ưu điểm nổi trội như: Có thể xây dựng trên nhiều loại nền, dễ thích ứng với độ lún của nền, ít bị nứt nẻ gây phá hoại đập, dễ sửa chữa tôn cao. Vì vậy đề tài “Giải pháp kỹ thuật nâng cao đập đất để tăng dung tích hiệu quả do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nhu cầu dùng nước“ là hết sức cần thiết có ý nghĩa thực tiễn cao.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU + Phân tích các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nhu cầu dùng nước dẫn đến nhiệm vụ cần tăng dung tích hiệu quả của hồ chứa nước. + Nghiên cứu các phương án nâng cao dung tích hiệu quả của hồ chứa. + Nghiên cứu các tác động và đánh giá ổn định công trình khi nâng cao đập đất. + Đánh giá tính khả thi của phương án nâng cao trình đỉnh đập để tăng dung tích hiệu quả của hồ chứa nước Suối Dầu tỉnh Khánh Hòa.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU + Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các thông số dùng trong tính toán xác định quy mô nhiệm vụ của hồ chứa nước như thay đổi lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, bốc hơi ảnh hưởng đến nhu cầu dùng nước, lượng nước đến bình quân tháng, đường quá trình lũ. + Chỉ nghiên cứu giải pháp nâng cao đập đất để tăng dung tích hữu ích của hồ chứa, không xét đến biện pháp cải tạo tràn xả lũ và các hạng mục công trình liên quan khác. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU + Sử dụng các phương pháp tổng hợp, thống kê các tài liệu lý thuyết, thực nghiệm, thực tế ứng dụng vào nâng cấp hồ chứa. + Sử dụng các phần mềm tính toán thấm, ổn định để đánh giá ổn định của đập đất sau khi nâng cao.
+ Áp dụng tính toán cụ thể cho việc nâng cấp hồ chứa nước Suối Dầu tỉnh Khánh Hòa + So sánh kết quả và đưa ra đánh giá về tính thực tiễn. TỔNG QUAN VỀ HỒ CHỨA NƯỚC 1. TỔNG QUAN VỀ HỒ CHỨA NƯỚC 1. Đặc điểm của hồ chứa nước Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đập đất là công trình ngăn nước được sử dụng rất phổ biến.
Do có nhiều ưu điểm là sử dụng vật liệu địa phương, rẻ tiền, thi công đơn giản, kết cấu tương đối bền chắc và thi công được trên nhiều loại nền địa chất khác nhau. Nhờ việc sử dụng các thành quả ngày càng hoàn thiện của các ngành địa kỹ thuật, lý thuyết thấm, nghiên cứu ứng suất biến dạng công trình và biện pháp thi công cơ giới nên hình thức kết cấu đập vừa hợp lý, vừa kinh tế. Việt Nam là một trong những nước có nhiều kinh nghiệm trong thiết kế và thi công hồ chứa. Theo điều tra của dự án UNDP VIE 97/2002 ở Việt Nam có khoảng 10.000 hồ chứa lớn nhỏ trong đó có gần 500 hồ chứa có đập lớn, đứng vào hàng thứ 16 trong các nước có số liệu thống kê của Hội đập cao thế giới.
Theo thống kê của Bộ NN&PTNT năm 2002 cả nước ta đã có 1967 hồ (dung tích mỗi hồ trên 2. Trong đó có 10 hồ thủy điện có tổng dung tích 19 tỷ m3 còn lại là 1957 hồ thủy nông với dung tích 5,842 tỷ m3 [7]. Các hồ chứa phân bố không đều trên phạm vi toàn quốc. Trong số 61 tỉnh thành nước ta có 41 tỉnh thành có hồ chứa nước tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung (xem hình I-1).
Các hồ xây dựng không đều trong từng thời kỳ phát triển của đất nước. Tính từ năm 1960 trở về trước khu vực miền Bắc và miền Trung xây dựng khoảng 6%. Từ năm 1960 đến năm 1975 xây dựng được khoảng 44%. Từ năm 1975 đến nay xây dựng khoảng 50%.
Trong những năm gần đây bằng nguồn vốn vay ADB, AFD, WB, vốn trái phiếu Chính phủ hàng loạt các hồ chứa lớn do ngành NN&PTNT quản lý đã và đang được xây dựng ở Miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên: hồ Đầm Hà Động (Quảng Ninh); hồ Cửa Đạt (Thanh Hóa); hồ Tả Trạch (Thừa Thiên Huế); hồ Nước Trong (Quảng Ngãi); hồ Định Bình (Bình Định); hồ Hoa Sơn (Khánh Hòa); hồ Tân Giang, hồ Sông Sắt (Ninh Thuận); hồ Lòng Sông (Bình Thuận). và rất nhiều các hồ chứa khác đang trong giai đoạn thiết kế kỹ thuật: Tà Rục, Sông Chò (Khánh Hòa); Mỹ Lâm (Phú Yên). Biểu đồ phân bố hồ chứa nước trên toàn quốc Ở nước ta đập vật liệu địa phương đóng vai trò chủ yếu. Đập vật liệu địa phương tương đối đa dạng.
Đập đất được đắp bằng các loại đất: Đất pha tàn tích sườn đồi, đất Bazan, đất ven biển miền Trung. Phần lớn các đập ở miền Bắc và miền Trung được xây dựng theo hình thức bằng vật liệu địa phương đồng chất hoặc không đồng chất. Đập không đồng chất thường xây dựng khối chống thấm (tường tâm, tường nghiêng, chân khay) bằng vật liệu có hệ số thấm nhỏ như đất sét, bê tông, màng chống thấm HPDE hoặc tường hào Bentonite. Ngoài ra đối với vùng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, đất đắp đập thường có tính trương nở nên thường sử dụng các hình thức đập nhiều khối có bố trí thiết bị thoát nước kiểu ống khói.
Thống kê một số đập đất, đất và đá lớn ở Việt Nam TT Tên hồ Tỉnh Loại Đập Hmax (m) Năm hoàn thành 1 Suối Hai Hà Tây Đất 29,00 1964 2 Đa Nhim Lâm Đồng Đất 38,00 1963 3 Suối Hai Hà Tây Đất 29,00 1964 4 Thượng Tuy Hà Tĩnh Đất 25,00 1964 5 Thác Bà Yên Bái Đá 45,00 1964(XD) 6 Cẩm Ly Quảng Bình Đất 30,00 1965 7 Tà Keo Lạng Sơn Đất 35,00 1972 8 Cấm Sơn Bắc Giang Đất 41,50 1974 5 TT Tên hồ Tỉnh Loại Đập Hmax (m) Năm hoàn thành 9 Vực Trống Hà Tĩnh Đất 22,80 1974 10 Đồng Mô Hà Tây Đất 21,00 1974 11 Tiên Lang Quảng Bình Đất 32,30 1978 12 Pa Khoang Lai Châu Đất 26,00 1978 13 Hòa Bình Hòa Bình Đất và đá 128,00 1978(XD) 14 Yên Mỹ Thanh Hoá Đất 25,00 1980 15 Yên Lập Quảng Ninh Đất và đá 40,00 1980 16 Vĩnh Trinh Quảng Nam Đất 23,00 1980 17 Núi Một Bình Định Đất 32,50 1980 18 Liệt Sơn Quảng Ngãi Đất 29,00 1981 19 Phú Ninh Quảng Nam Đất 40,00 1982 20 Núi Cốc Thái Nguyên Đất 27,00 1982 21 Xạ Hương Vĩnh Phúc Đất 42,00 1982 22 Sông Mực Thanh Hoá Đất 33,40 1983 23 Quất Động Quảng Ninh Đất 22,60 1983 24 Xạ Hương Vĩnh Phúc Đất 41,00 1984 25 Hoà Trung Đà Nẵng Đất 26,00 1984 26 Hội Sơn Bình Định Đất 29,00 1985 27 Dầu Tiếng Tây Ninh Đất 28,00 1985 28 Biển Hồ Gia Lai Đất 21,00 1985 29 Núi Một Bình Định Đất 30,00 1986 30 Vực Tròn Quảng Bình Đất 29,00 1986 31 Tuyền Lâm Lâm Đồng Đất 32,00 1987 32 Đá Bàn Khánh Hoà Đất 42,50 1988 33 Kẻ Gỗ Hà Tĩnh Đất 37,40 1988 34 Khe Tân Quảng Nam Đất 22,40 1989 35 Kinh Môn Quảng Trị Đất 21,00 1989 36 Khe Chè Quảng Ninh Đất 25,20 1990 37 Phú Xuân Phú Yên Đất 23,70 1996 38 Sông Rác Hà Tĩnh Đất 26,80 1996 6 TT Tên hồ Tỉnh Loại Đập Hmax (m) Năm hoàn thành 39 Thuận Ninh Bình Định Đất 29,20 1996 40 Đồng Nghệ Đà Nẵng Đất 25,00 1996 41 Sông Quao Bình Thuận Đất 40,00 1997 42 Gò miếu Thái nguyên Đất 30,00 1999 43 Cà Giây Ninh thuận Đất 35,40 1999 44 Ayun Hạ Gia Lai Đất 36,00 1999 45 Sông Hinh Phú Yên Đất 50,00 2000 46 Easoupe thượng Đăk Lắc Đất 27,00 2005 47 Cam Ranh Khánh Hòa Đất 23,00 1998 48 Suối Dầu Khánh Hòa Đất 27,00 2004 49 Suối Hành Khánh Hòa Đất 24,00 1986 50 Sông Sắt Ninh thuận Đất 29,00 2007 51 Sông Sào Nghệ An Đất 30,00 2009 52 Hà Động Quảng Ninh Đất 30,00 2010 53 Cửa Đạt Thanh Hóa Đá đổ 118,5 2010 54 Tả Trạch T. Huế Đất 56,00 Đang xây dựng 55 Hoa Sơn Khánh Hòa Đất 29,00 2011 56 Iamơ Đăk Lăk Đất 32,00 Đang xây dựng 1. Ý nghĩa tài nguyên nước với quá trình phát triển kinh tế xã hội Tài nguyên nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của loài người. Nước góp phần thành tạo bề mặt trái đất, hình thành thổ nhưỡng, thảm thực vật, tạo thời tiết, điều hoà khí hậu, phân phối lại nhiệt độ và độ ẩm.
Ngoài ra nước cũng là tác nhân của những thảm họa khi quá nhiều nước gây nên lũ lụt hay thiếu hụt nước gây nên tình trạng hạn hán. Hồ chứa nước có tầm quan trọng đặc biệt lớn đối với quá trình điều tiết nguồn nước, phát huy những tác dụng to lớn của nguồn nước và giảm thiểu tác hại xấu. Về mùa mưa hồ chứa nước góp phần cắt lũ, chậm lũ cho vùng hạ du. Ngược lại về mùa kiệt cấp nước đáp ứng yêu cầu tưới, cấp nước công nghiệp, sinh hoạt, giao thông thủy, đẩy mặn giữ gìn môi trường sinh thái.
7 Những lợi ích kinh tế mà hồ chứa nước mang lại là rất lớn, khẳng định được vai trò quan trọng trong đảm bảo an toàn cuộc sống của người dân và hoạt động sản xuất. Tuy nhiên ở nước ta hầu hết các hồ chứa nước xây dựng đã khá lâu nên không còn đảm bảo yêu cầu theo thiết kế ban đầu, không đáp ứng được quá trình phát triển kinh tế xã hội. Một mặt do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng bất lợi lượng nước đến hồ, nhiệt độ tăng cao làm quá trình bốc hơi tăng nhanh, nhu cầu sử dụng nước cho các ngành không ngừng tăng lên so với thiết kế ban đầu.