Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh Trên thế giới, năng lực cạnh tranh là khái niệm được hiểu theo nhiều cách khác nhau, chưa có sự thống nhất. Tuy nhiên, hiện nay thế giới sử dụng nhiều khái niệm năng lực cạnh tranh của M.Porter, người sáng lập ra lý thuyết cạnh tranh.Porter thì:” năng lực cạnh tranh một quốc gia được đo bằng sự thịnh vượng, thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người và chất lượng sống. Sự thịnh vượng chủ yếu do năng suất và huy động lao động vào quá trình tăng trưởng quyết định”(Porter(1990), The Competitive Advantage of Nation)Do đó, trong khái niệm năng lực cạnh tranh của M.Porter, năng suất là yếu tố quyết định tiêu chuẩn sống bền vững. Với khái niệm này, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cũng có nghĩa là đóng góp và nâng cao chất lượng tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh của một tỉnh, thành dưới dạng năng lực cạnh tranh quốc gia. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh, thành là quá trình nâng cao chất lượng tăng trưởng và hiệu quả của kinh tế của một tỉnh, thành. Năng lực cạnh tranh của tỉnh, thành phụ thuộc vào năng suất sử dụng nguồn lực con người, tài nguyên và nguồn vốn có một tỉnh, thành. - Năng suất lao động thay đổi, cho nên có thể tác động tới tiêu dung và ảnh hưởng quyết định mức số của người dân.
Khi năng suất lao động tăng lên làm cho đồng lương mà người lao động nhận được nhiều hơn. Còn chủ đầu tư thu được lợi nhuận nhiều hơn, tỷ suất lợi nhuận từ vốn bỏ ra tăng lên. Bên cạnh đó, tài giá trị đóng góp vào sản phẩm cũng tăng lên là cho tỷ suất lợi nhuận thu được từ tài nguyên thiên nhiên cũng tăng lên. Suy cho cùng năng suất xác định mức sống của người dân có bền vững hay không? - Năng lực cạnh tranh được các tỉnh cần được chú trọng tới để có thể phát triển hơn nữa kinh tế của tỉnh.
Các tỉnh cần phải nắm được năng lực cạnh tranh không phải là một tỉnh cạnh tranh trong lĩnh vực gì để phát triển mà là tỉnh đó cạnh tranh hiệu quả như thế nào trong các lĩnh vực. HVTH: Trần Duy Hưng 4 GVHD: PGS.TS Trần Văn Bình Luận văn thạc sỹ QTKD - Năng suất của một tỉnh có được từ sự kết hợp của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Các doanh nghiệp trong và ngoài nước là nơi sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu dùng trong và ngoài nước. Cần có sự kết hợp giữa các doanh nghiệp này để thúc đẩy quá trình sản xuất và xuất khẩu hàng hóa được thuận lợi.
- Năng suất của các ngành nghề trong tỉnh là căn bản của năng lực cạnh tranh, chứ không phải là năng lực cạnh tranh một ngành nghề xuất khẩu. Các ngành nghề sản xuất trong tỉnh là cơ sở để nâng cao năng lực cạnh tranh. Chỉ khi đạt được năng suất cao của các ngành nghề này thì mới có thể thúc đẩy quá trình phát triển tổng hợp. Nó là tiền đề để các ngành xuất khẩu phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Do vậy, các tỉnh cạnh tranh trong việc tạo ra môi trường kinh doanh hiệu quả nhất (mang lại năng suất cao nhất). Các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân đóng các vai trò khác nhau nhưng lại liên quan với nhau trong việc tao ra một nền kinh tế có năng suất cao.2 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Provincial Competitiveness Index-PCI) là chỉ số đánh giá và xếp hạng đánh giá chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh trong việc tạo lập môi trường chính sách phù hợp để phát triển kinh tế tư nhân. Như vậy có thể hiểu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là khả năng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đó so với tỉnh khác dựa trên lợi thế so sánh và nguồn lực con người của mình. Do đó có thể thấy, các yếu tố quyết định tới năng lực cạnh tranh của một tỉnh, thành phố bao gồm: - Năng lực cạnh tranh kinh tế vi mô: • Chất lượng của môi trường kinh doanh cấp tỉnh.
• Tình hình phát triển các ngành nghề. • Trình độ vận hành và lập chiến lược ở cấp công ty. - Năng lực cạnh tranh kinh tế vĩ mô: • Chính sách kinh tế vĩ mô • Hạ tầng xã hội và các định chế chính trị - Các lợi thế tự nhiên. Dựa trên những quy định của Nhà nước, tỉnh đưa ra các chính sách kinh tế vĩ mô, hạ tầng xã hội và các định chế chính trị phù hợp với thực tế của địa phương.
Đây được coi là tiền đề mang tính định hướng phát triển kinh tế - xã hội của một HVTH: Trần Duy Hưng 5 GVHD: PGS.TS Trần Văn Bình Luận văn thạc sỹ QTKD tỉnh. Do vậy, có thể thấy năng lực cạnh tranh kinh tế vĩ mô tạo ra tiềm năng đạt năng suất cao, nhưng chưa đủ. Năng lực cạnh tranh kinh tế vi mô mới là yếu tố quyết định tới phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đầu tư.
Một tỉnh được đánh giá là có năng lực cạnh tranh khi mà môi trường đầu tư của một tỉnh đối với khu vực kinh tế tư nhân được các doanh nghiệp đánh giá dễ dàng và thuận lợi trong việc đầu tư và triển khai các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Khi mà chất lượng của môi trường kinh doanh cấp tỉnh được nâng cao sẽ thu hút đầu tư hiệu quả. Quá trình chuyển dịch cơ cấu tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp đúng hướng, và sự phát triển của các ngành nghề góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, làm nâng cao chất lượng sống của người lao động. Đối với các doanh nghiệp, quá trình vận hành và lập chiến lược ở cấp công ty đưa ra hướng đi đúng đắn cho doanh nghiệp, đây là điều làm tăng năng suất lao động.
Năng suất thực sự phụ thuộc vào việc cải thiện năng lực kinh tế tầm vi mô và trình độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tỉnh. Các lợi thế tự nhiên được coi là các lợi thế khách quan và tạo ra điều kiện tốt cho tỉnh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hôi. Đây có thể coi là một yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của tỉnh. Hiện nay, mục tiêu của hầu hết các tỉnh là nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh mình để tìm kiếm và phát triển khu vực kinh tế tư nhân nhằm nâng cao tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, nên cần kết hợp đồng bộ các yếu tố quyết định tới năng lực cạnh tranh một cách phù hợp.2 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 1.1 Quá trình hình thành và phát triển chỉ số PCI ở Việt Nam Ý tưởng xây dựng chỉ số PCI bắt nguồn từ một nghiên cứu trước đây của Quỹ Châu Á và VCCI.
Đó là nghiên cứu “ Những thực hiện tốt trong điều hành kinh tế cấp tỉnh ở Việt Nam”, được thực hiện vào năm 2003 – 2004 tại 14 tỉnh của Việt Nam, với nhiều phương pháp tính toán. Chỉ số PCI là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa Dự án Nâng cao Năng lực cạnh tranh Việt Nam giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam(VCCI). Năm 2005, chỉ số PCI bao gồm 42 tỉnh, thành phố của Việt Nam. Về tổng thể, 42 tỉnh, thành phố này chiếm khoảng 90% giá trị GDP của Việt Nam.
VNCI và HVTH: Trần Duy Hưng 6 GVHD: PGS.TS Trần Văn Bình Luận văn thạc sỹ QTKD VCCI đã tiếp tục hợp tác xây dựng chỉ số PCI cho năm 2006 và các năm tiếp theo với sự tham gia đầy đủ của 64 tỉnh, thành phố. Đến năm 2012, chỉ số PCI vẫn được VNCI và VCCI nghiên cứu trên cơ sở có sự tham gia đầy đủ của 63 tỉnh thành (năm 2007, tỉnh Hà Tây sát nhập vào thủ đô Hà Nội). Mục đích là nhằm tạo điều kiện để các tỉnh, thành theo dõi những thay đổi trong môi trường kinh doanh của tỉnh mình qua các năm, không chỉ ở thứ hạng PCI mà còn ở điểm số PCI. Vào năm 2002, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Quỹ Châu Á đã thực hiện dự án nghiên cứu đầu tiên tại 14 tỉnh, nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố điều hành kinh tế và sự phát triển kinh tế của các tỉnh đó.
Kết quả của dự án nghiên cứu này sau đó đã trở thành tiền đề cho dự án nghiên cứu phát triển kinh tế do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ. Mục tiêu nghiên cứu là nhằm xác định được các nhân tố điều hành kinh tế có vai trò then chốt đối với sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Chỉ số PCI được xây dựng với mục tiêu giúp lý giải nguyên nhân tại sao trong cùng một nước, một số tỉnh có sự phát triển năng động của khu vực tư nhân, tạo ra việc làm và tăng trưởng kinh tế… tốt hơn các tỉnh khác. Trên cơ sở thực hiện điều tra đối với các doanh nghiệp để tìm hiểu đánh giá của doanh nghiệp đối với môi trường kinh doanh ở tỉnh, thành, kết hợp dữ liệu điều tra với các nguồn khác chính thức về địa phương, chỉ số PCI đánh giá các tỉnh, thành theo thang điểm 100.
Chỉ số này bao gồm 9 chỉ số thành phần, mỗi chỉ số thành phần lý giải khá nhiều sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh, thành, bao gồm: 1. Chi phí gia nhập thị trường. Tiếp cận đất đai. Tính minh bạch và tiếp cận thông tin.
Chi phí về thời gian thực hiện các quy định của nhà nước. Chi phí không chính thức. Thực hiện chính sách của trung ương. Ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước.
Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh. Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Cho đến nay, năm 2012, trải qua 8 năm thực hiện, báo cáo PCI đã cung cấp những thông tin quan trọng cho các đối tượng khác nhau như Chính phủ, chính quyền địa phương, nhà đầu tư, doanh nghiệp, đối với các nhà tài trợ quốc tế, và các HVTH: Trần Duy Hưng 7 GVHD: PGS.TS Trần Văn Bình Luận văn thạc sỹ QTKD tổ chức các nhân có nhu cầu ….Trải qua những thay đổi để có thể phù hợp với tình hình thực tế, chỉ số PCI 2012 gồm 9 chỉ số thành phần đó là: 1. Chi phí gia nhập thị trường.