CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm Trong nền kinh tế thị trường các chủ thể của nền kinh tế đều phải sử dụng nguồn tài chính để đáp ứng yêu cầu tái sản xuất các mặt hoạt động của mình, từ đó thường xuyên xuất hiện ba nhóm chủ thể: Nhóm 1 là những chủ thể thu vừa đáp ứng nhu cầu chi; Nhóm 2 là những chủ thể thu vượt quá nhu cầu chi, các chủ thể trong nhóm này dư thừa nguồn tài chính; Nhóm 3 là những chủ thể thu không đủ chi, các chủ thể trong nhóm này thiếu nguồn tài chính để đáp ứng yêu cầu tái sản xuất các mặt hoạt động của mình. Như vậy, trong nền kinh tế thị trường thường xuyên tồn tại mâu thuẫn giữa thừa nguồn tài chính ở chủ thể này và thiếu nguồn tài chính ở những chủ thể khác.
Mâu thuẫn đó chỉ có thể giải quyết thông qua quan hệ tín dụng. Vì vậy tín dụng là một tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Như vậy, “Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng và sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hon" [3]. Nó thể hiện ở 3 nội dung: sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác; sự chuyển giao này mang tính tạm thời; khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức.
Bản chất của tín dụng được hiểu theo hai khía cạnh sau: - Thứ nhất: Tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa người đi vay và người cho vay, nhờ quan hệ ấy mà vốn tiền tệ được vận động từ chủ 5 thể này sang chủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế xã hội. - Thứ hai: Tín dụng đuợc coi là một số vốn, có thể bằng hiện vật hoặc hiện kim vận động theo nguyên tắc hoàn trả, đã đáp ứng cho các nhu cầu của chủ thể tín dụng. Vai trò tín dụng ngân hàng a. Đối với nền kinh tế: Thứ nhất, tín dụng ngân hàng thúc đẩy tăng trưởng và việc làm.
Bởi vì nó góp phần tăng luợng vốn đầu tu và hiệu quả đầu tư. Điều này xuất phát từ chức năng kinh tế cơ bản của thị trường tài chính nói chung và thị trường tín dụng ngân hàng nói riêng là luân chuyển vốn từ những người (cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ) có nguồn vốn thặng dư tạm thời (do chi tiêu ít hơn thu nhập). Tại sao việc luân chuyển vốn từ người tiết kiệm sang người sử dụng vốn lại quan trọng với nền kinh tế? Nếu không có ngân hàng, thì việc luân chuyển vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế sẽ ách tắc, vốn nằm chết trong dân. Chính vì vậy, kênh luân chuyển vốn qua ngân hàng có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy tăng lượng vốn đầu tư cho nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng không chỉ làm tăng vốn mà còn đồng thời giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế. Bởi vì, những người tiết kiệm thường không đồng thời là những người có cơ hội sinh lời cao. Thông qua tín dụng ngân hàng mà vốn từ những người thiếu các dự án đầu tư hiệu quả được chuyển tới những người có các dự án đầu tư hiệu quả hơn nhưng thiếu vốn. Người đi vay và ngân hàng đều nỗ lực sử dụng vốn hiệu quả để tránh không trả được nợ dẫn đến bị phát mại tài sản, giải thể hoặc phá sản.
Kết quả là nền kinh tế tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và năng xuất lao động cao hơn. 6 Tín dụng ngân hàng là người hỗ trợ đắc lực cho việc phát triển tín dụng thương mại thông qua triết khấu thương phiếu. Qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hoạt động mua bán giữa các doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế. So với kênh dẫn vốn thị trường chứng khoán thì thị trường tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng hơn nhiều do giảm được chi phí giao dịch và giảm thông tin bất cân xứng.
Thứ hai, là công cụ điều tiết kinh tế xã hội của nhà nước. Thông qua việc đầu tư vốn tín dụng vào những ngành nghề, khu vực kinh tế trọng điểm sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề, khu vực kinh tế đó, hình thành nên cơ cấu hiệu quả. Việt Nam đã thực hiện cho vay lãi suất bảo lãnh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay ngân hàng. Thông qua lãi suất, tín dụng ngân hàng góp phần lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền.
Ở Việt Nam, tín dụng ngân hàng là kênh quan trọng chuyền tải vốn tài trợ của nhà nước đến nông nghiệp, nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, ổn định chính trị, xã hội. Đối với khách hàng: Thứ nhất, tín dụng ngân hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu về số lượng và chất lượng vốn cho khách hàng. So với tín dụng thương mại và tín dụng cá nhân nặng lãi thì tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng với khách hàng. Với các ưu điểm như không bị hạn chế về thời gian vay, về mục đích sử dụng, nhanh chóng, dễ tiếp cận và có khả năng đáp ứng được nhu cầu vốn lớn nên tín dụng ngân hàng thoả mãn được nhu cầu đa dạng của khách hàng.
Qua đó, tín dụng ngân hàng giúp nhà đầu tư kịp thời tận dụng được cơ hội kinh doanh, giúp các gia đình nâng cao chất lượng cuộc sống. Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp. So với việc sử dụng vốn chủ sở hữu thì tín dụng ngân hàng ràng buộc trách nhiệm khách hàng phải hoàn trả cả vốn gốc và lãi trong thời 7 hạn nhất định như thoả thuận. Do đó, buộc khách hàng phải nỗ lực, tận dụng hết khả năng của mình để sử dụng vốn vay hiệu quả nhằm bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.
Thứ ba, khi được ngân hàng cho vay vốn hàm ý khách hàng đã được chọn lọc và có trách nhiệm tốt. Điều này làm cho thương hiệu của khách hàng trên thương trường được tăng cường, tăng được uy tín và giúp khách hàng mở rộng được kinh doanh. Đối với ngân hàng: Thứ nhất, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Tín dụng ngân hàng là hoạt động truyền thống, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có (khoảng 69%) và mang lại nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng (70 đến 90%).
Mặc dù tỷ trọng hoạt động tín dụng đang có xu hướng giảm trên thị trường tài chính, nhưng tín dụng ngân hàng vẫn luôn là nghiệp vụ mang lại lợi nhuận quan trọng nhất đối với mỗi ngân hàng. Thứ hai, thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng, ngân hàng mở rộng được các loại hình dịch vụ khác như thanh toán, thu hút tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn. từ đó đa dạng các hoạt động kinh doanh, tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro khi ngân hàng trung ương thắt chặt tiền tệ hoặc khi gặp rủi ro tín dụng. Phân loại tín dụng ngân hàng và các hình thức cho vay a.
Phân loại tín dụng ngân hàng Kinh tế thị trường càng phát triển, xã hội càng hiện đại, thì nhu cầu của con người càng trở nên phong phú và đa dạng, khiến cho các dịch vụ phục vụ con người cũng trở nên phong phú và đa dạng theo. Để đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của khách hàng, ngân hàng luôn phải nghiên cứu đưa ra các sản phẩm phù hợp, điều này khiến cho tín dụng ngân hàng trở nên phong phú và đa dạng như ngày nay. Để có cái nhìn tổng quan về các loại hình tín dụng, căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, tín dụng được phân loại gồm: 8 * Căn cứ vào mục đích vay vốn: Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, tín dụng gồm các loại sau: Thứ nhất, tín dụng bất động sản: Là các khoản tín dụng đầu tu vào bất động sản, bao gồm: - Tín dụng ngắn hạn cho xây dựng nhỏ và sửa chữa nhà cửa. - Tín dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, cơ sở dịch vụ, trang trại.
Thứ hai, tín dụng công thương nghiệp: Là các khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để trang trải các chi phí nhu mua hàng hoá, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, trả thuế và chi trả luơng. Thứ ba, tín dụng nông nghiệp: Là các khoản tín dụng đuợc cấp cho các hoạt động nông nghiệp, nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi. Thứ tư, tín dụng tiêu dùng: Là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân, hộ gia đình để mua sắm hàng hoá tiêu dùng đắt tiền nhu xe cộ, trang thiết bị trong nhà, cho vay du học. Thứ năm, tín dụng đầu tư tài chính: Là các khoản tín dụng đuợc cấp cho các cá nhân, doanh nghiệp mua chứng khoán và vàng.
* Căn cứ vào thời hạn tín dụng: - Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn đến 01 năm và đuợc sử dụng để: Bù đắp thiếu hụt vốn luu động tạm thời của các doanh nghiệp nhu: Bổ sung ngân quỹ, ứng truớc tiền hàng, đảm bảo yêu cầu thanh toán đến hạn, duy trì hàng tồn kho. phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình. Đây là loại tín dụng có mức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, tránh đuợc các rủi ro về lãi suất, lạm phát cũng nhu sự bất ổn của môi truờng kinh tế vĩ mô và thị truờng, vì thế lãi suất thuờng thấp hơn các loại tín dụng khác. 9 - Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm, được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất và xây dựng công trình vừa và nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
Tín dụng trung hạn còn là nguồn quan trọng hình thành nên vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với doanh nghiệp mới được thành lập. - Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, đáp ứng cho nhu cầu đầu tư cho dài hạn như: Xây dựng cơ bản (nhà xưởng, dây chuyền sản xuất.), xây dựng cơ sở hạ tầng (Đường xá, cảng biển, sân bay.), cải tiến và mở rộng sản xuất có qui mô lớn.