CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG 1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG HỢP TÁC XÃ 1. Khái niệm và đặc điểm ngân hàng hợp tác xã 1.1 Khái niệm Ngân Hàng Hợp Tác là một Tổ chức tín dụng hợp tác nhằm tương trợ và tăng cường hiệu quả cho hoạt động của hệ thống các Quỹ tín dụng nhân dân; Làm đầu mối của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân, giữ vai trò điều hoà vốn. - Ngân hàng Hợp tác có quan hệ hợp tác với nhiều tổ chức trong nước và tổ chức quốc tế.
- Có 02 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Công nghệ Thông tin, Trung tâm Đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ. - Được cấp chứng chỉ ISO 9001:2008. - Là thành viên của Hiệp hội QTDND Việt Nam, Hiệp hội Liên đoàn Hợp tác xã tín dụng Châu Á. Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam ra đời trên cơ sở chuyển đổi từ Quỹ Tín dụng Nhân dân Trung ương (tên tiếng Anh là Central People's Credit Fund, viết tắt: CCF).
Quỹ tín dụng Trung ương được hình thành dựa trên Quyết định số 390/QĐ- TTg ngày 27/7/1993 và công văn số 6901/KTTH năm 1994 của Chính phủ Việt Nam. Đến năm 1995, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quyết định số 162/QĐ-NH5 ngày 8/6/1995 cho thành lập Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương và Quyết định số 200/QĐ-NH5 nhằm cấp giấy phép hoạt động cho Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương với số vốn điều lệ ban đầu là 200 tỷ đồng. Từ năm 2010, vốn điều lệ được tăng lên 2000 tỷ đồng. Năm 2013, với vốn điều lệ là 3.000 tỷ đồng, theo giấy phép số 166/GP-NHNN được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký ban hành ngày 4-6-2013, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam được thành lập, có thời hạn hoạt động 99 năm.
Vốn điều lệ của 7 ngân hàng bao gồm vốn hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước Việt Nam, vốn góp của quỹ tín dụng nhân dân thành viên và các pháp nhân khác. Sau 19 năm thành lập và phát triển hệ thống QTDND, đến nay chúng ta đã thực hiện được mục tiêu là hình thành mô hình kinh tế HTX trong lĩnh vực tín dụng trên địa bàn nông thôn. Các QTDND đã góp phần đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh của các thành viên; thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo; hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn. Tuy còn nhiều khó khăn nhưng Ngân hàng hợp tác xã đã thể hiện được vai trò đầu mối hệ thống, có nhiều nỗ lực giúp đỡ, hỗ trợ các QTDND cơ sở, qua đó góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển ổn định và đảm bảo an toàn trong hệ thống QTDND thời gian qua.2 Đặc điểm của ngân hàng Hợp tác xã - Ngân hàng hợp tác xã là đầu mối về điều hoà vốn, thanh toán, cung ứng các dịch vụ cho các QTDND.
- Ngân hàng hợp tác xã là loại hình hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu là tương trợ giúp đỡ thành viên và tạo điều kiện cho việc cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng là hợp tác xã. - Trao đổi thông tin, kinh nghiệm, tư vấn cho các QTDND thành viên về tổ chức, quản trị và điều hành. - Quản lý các quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. - Đào tạo hướng dẫn một số nghiệp vụ cho các QTDND.
- Kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ ngân hàng: huy động vốn, cho vay, dịch vụ thanh toán, thẻ. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng hợp tác xã 1.1 Hoạt động huy động vốn Huy động vốn có thể được xem là một trong những nghiệp vụ xuất hiện sớm nhất trong hoạt động của các ngân hàng thương mại. Trong giai đoạn sơ hai của hoạt động ngân hàng, những nghiệp vụ này chỉ đơn thuần là hoạt động cất giữ các 8 tài sản có giá nhắm mục đích đảm bảo an toàn, và lúc này, người phải trả phí là người gửi tiền chứ không phải là các ngân hàng, các khoản tiền chỉ được xem đơn thuần là vật được kí gửi chứ hoàn toàn không đóng vai trò là nguồn vốn đối với các ngân hàng thương mại, tiền lúc này không được xem là tiền tệ theo đúng nghĩa của nó, vì không có khả năng luân chuyển, không sinh ra được lợi nhuận. Khi nhu cầu tín dụng gia tăng, nghiệp vụ ngân hàng phát triển, vị thế đó bị đảo ngược, ngân hàng là người phải trả phí (lãi suất - giá cả của tín dụng), và nguồn tiền được kí gửi thay đổi vai trò của nó, trở thành nguồn vốn khả dụng và lớn nhất của các ngân hàng thương mại hiện nay.
Chính vì vậy, trái ngược với quá khứ, ngân hàng là người phải đi nài nỉ hách hàng gửi tiền. Nếu trước đây, ngân hàng là người bị động trong quan hệ này thì hiện nay, hầu hết tất cả các ngân hàng đều có các chính sách, phương thức để lôi kéo nguồn tiền gửi này và chính vì vậy các phương thức huy động vốn ngày càng trở nên quan trọng, phong phú và đa dạng hơn. Có thể nói, hiện nay, hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động hết sức quan trọng và liên quan đến sự sống còn của các ngân hàng thương mại. * Các hình thức huy động vốn của ngân hàng chính sách - Huy động vốn chủ sở hữu.
Để bắt đầu hoạt động ngân hàng ( được pháp luật cho phép) chủ ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn này rất đa dạng tùy theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường. Nếu là ngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước thì ngân sách nhà nước cấp.
Nếu là ngân hàng cổ phần, các cổ đông góp thông qua mua cổ phần hoặc cổ phiếu. Ngân hàng liên doanh do các bên liên doanh góp vốn; ngân hàng tư nhân là vốn thuộc sở hữu tư nhân. Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn của chủ theo nhiều phương thức khác nhau tùy vào điều kiện cụ thể. Trong điều kiện thu nhập ròng lớn 9 hơn không, chủ ngân hàng có xu hướng gia tăng vốn của chủ bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tư.
Nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm. để mở rộng qui mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng nhu cầu tăng vốn của chủ ngân hàng theo nhà nước quy định. đặc điểm của hình thức huy động này là không thường xuyên, song giúp cho ngân hàng có được vốn sở hữu lớn hơn vào lúc cần thiết. - Huy động vốn nợ Các khoản đi vay thường là với thời hạn và quy mô xác định trước, do vậy tạo thành nguồn ổn định cho ngân hàng.
Khác với nhận tiền gửi, ngân hàng không nhất thiết phải đi vay thường xuyên: ngân hàng chi đi vay lúc cần thiết; ngân hàng hoàn toàn chủ động quyết định khối lượng vay cho phù hợp với nhu cầu sử dụng. Nguồn vay có thể không phải chịu dự trữ bắt buộc và bảo hiểm tiền gửi. Tuy nhiên, do rủi ro lớn hơn nên lãi suất phải trả cho tiền vay lớn thường lớn hơn lãi suất phải trả cho tiền gửi cùng kỳ hạn. Các khoản vay ngân hàng nhà nước và vay ngân hàng khác tuy lãi suất thấp song thường có thời hạn ngắn, chỉ nhằm đảm bảo thanh toán tức thời cho ngân hàng.
Việc cho vay của ngân hàng nhà nước phụ thuộc rất lớn vào chính sách tiền tệ mà ngân hàng nhà nước theo đuổi trong từng thời kỳ. Vay thông qua phát hành các giấy nợ trung và dài hạn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo và gia tăng các nguồn trung và dài hạn ổn định cao cho ngân hàng. Ngân hàng có thể sử dụng nguồn này để cho vay các dự án, tài trợ cho trang thiết bị và bất động sản của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Các nhân tố ảnh hưởng quan trọng nhất là thu nhập của dân cư và ổn định vĩ mô, sau đến là các kỹ thuật nghiệp vụ của ngân hàng nhằm tạo tính thanh hoản của các giấy nợ và thuận tiện đối với người cho vay.
Mặc dù lãi suốt thường cao hơn các nguồn khác, song ngân hàng vẫn phải sử dụng phát hành giấy nợ trung và dài hạn khi tiền gửi không đáp ứng được những yêu cầu như ổn định, quy mô đủ lớn trong thời gian xác định. - Huy động qua phát hành các loại giấy tờ có giá Ngày nay trong hoạt động kinh doanh của các NHCS cạnh tranh là yếu tố 10 không thể thiếu được. Các NHCS cạnh tranh nhau về lãi suất huy động đến lãi suất cho vay. Trong lĩnh vực huy động vốn các NHCS phải luôn luôn tìm các biện pháp để có thể huy động được đủ nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu sử dụng vốn của mình.
Các NHCS không chỉ sử dụng các Công cụ truyền thống để huy động vốn mà còn đưa ra các các công cụ mới có hiệu quả hơn để huy động vốn một cách dễ dàng đáp ứng nhu cầu vốn của mình và kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng đó ra đời. Kỳ phiếu và trái phiếu là giấy tờ có giấy xác nhận khoản nợ của ngân hàng với người nắm giữ. Kỳ phiếu được phát hành thường xuyên và có kỳ hạn ngắn: 3, 6. Trái phiếu thường có kỳ hạn lớn hơn 1 năm.
Việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu có ưu thế: giúp ngân hàng huy động được đúng số lượng vốn cần thiết và có thời hạn đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Tuy nhiên chi phí của nguồn vốn này tương đối cao do ngân hàng phải trả lãi cao hơn các hình thức huy động truyền thống. - Huy động qua tiền gửi của các tổ chức kinh tế - Tiền gửi không kỳ hạn: là khoản tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhưng hách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải luôn đảm bảo yêu cầu này. Mục đích của khách hàng khi gửi tiền vào ngân hàng là an toàn và hưởng các dịch vụ ngân hàng, tạo mối quan hệ với ngân hàng.
Tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế trong tổng nguồn vốn của ngân hàng cao và nguồn vốn này có tính ổn định tương đối cao với bao giờ các tổ chức kinh tế cũng duy trì ít nhất ở một số dư nhất định. Đối với nguồn vốn này ngân hàng chỉ phải trả lãi thấp nhưng chi phí phi lãi rất cao.