CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại NHTM ra đời cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Với chức năng là trung gian tài chính, làm cầu nối giữa người gửi tiền và người vay tiền nên hệ thống ngân hàng đã trở thành một ngành kinh tế huyết mạch, là động lực thức đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Đứng trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta có các định nghĩa khác nhau về NHTM. Xét trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, Giáo sư Peter S.Rose định nghĩa : “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Xét trên các hoạt động chủ yếu của NHTM, theo luật các tổ chức tín dụng năm 1997 (được sửa đổi bổ sung năm 2004) quy định: “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tín dụng được thể hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Các loại hình ngân hàng chủ yếu bao gồm: NHTM, ngân hàng Phát triển, ngân hàng Đầu tư, ngân hàng Chính sách, ngân hàng hợp tác và các loai hình ngân hàng khác”.
Như vậy từ các định nghĩa có thể thấy NHTM là doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ với các nghiệp vụ chủ yếu là huy động vốn và cho vay. Ngoài ra NHTM còn thực hiện chức năng thanh toán và cung cấp nhiều dịch vụ khác. Ngày nay, trên thị trường tài chính, tiền tệ các loại hình tổ chức tham gia hoạt động đan xen một cách đa dạng, phong phú, một số loại hình tổ chức tín dụng 6 khác (tổ chức tín dụng phi ngân hàng) cũng thực hiện một số nghiệp vụ của NHTM. Tuy nhiện, các tổ chức này không nhận tiền gửi không kỳ hạn và không làm dịch vụ thanh toán.
Đó chính là tiêu chí để phân biệt NHTM với các tổ chức tín dụng khác. Chức năng và vai trò của Ngân hàng thương mại a. Chức năng của ngân hàng thương mại a1. Chức năng trung gian tài chính Ngân hàng huy động vốn và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn cho vay và sử dụng nguồn vốn đó cho vay đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của các chủ thể khác trong nền kinh tế.
Như vậy “ngân hàng vừa mua tiền lại vừa bán tiền” phần chênh lệch giữa giá “bán” và giá “mua” chính là bộ phận lớn trong lợi nhuận của NHTM. Chức năng trung gian thanh toán Trên cơ sở những hoạt động đi vay để cho vay, NHTM đã cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng. Thay cho việc thanh toán trực tiếp, các doanh nghiệp, cá nhân có thể nhờ NHTM thực hiện những công việc này dựa trên những khoản tiền họ đã gửi ở ngân hàng, thông qua việc mang tiền của người phải trả chuyển cho người được hưởng bằng nhiều hình thức khác nhau với kỹ thuật ngày càng tiên tiến và thủ tục ngày càng đơn giản.3 Chức năng tạo tiền Chức năng tạo tiền không giới hạn trong hành động in thêm tiền và phát hành tiền mới của Ngân hàng Nhà nước. Bản thân các NHTM trong quá trình thực hiện các chức năng của mình vẫn có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM.
Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ 7 sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ. Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ. Một khối lượng tín dụng mà NHTM cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của NHTM, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng. Vai trò của ngân hàng thương mại - NHTM giúp cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh. - Các NHTM một mặt góp phần hình thành, duy trì và phát triển nền kinh tế theo một cơ cấu ngành và khu vực nhất định.
Mặt khác, các NHTM góp phần điều chỉnh ngành, khu vực khi xuất hiện sự phát triển mất cân đối hoặc khi cần có sự thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của thị trường, NHTM tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW. - NHTM làm cầu nối giữa NHTW với nền kinh tế để thực hiện chính sách tiền tệ. - NHTM phục vụ cho việc phát triển kinh tế đối ngoại và hợp tác quốc tế của hệ thống Ngân hàng cũng không ngừng phát triển, giúp khai thác được nguồn vốn đáng kể từ nước ngoài cho phát triển đất nước. Đến nay quan hệ song phương về hợp tác Ngân hàng giữa Việt Nam với các nước đã không ngừng phát triển và mở rộng.
CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng thương mại Tín dụng là một phạm trù kinh tế và lịch sử gắn liến với nền sản xuất hàng hóa. Nó phản ảnh quan hệ giữa chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng đối với các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế trên nguyên tắc thoả thuận giữa hai chủ thể về kỳ hạn hoàn trả gốc và lãi. Tín dụng (tiếng Anh là credit) là thuật ngữ xuất phát trong tiếng Latin có nghĩa là sự tin tưởng.
Ở đây sự tin tưởng được hiểu từ hai phía: người cho vay tin tưởng vào khả năng trả nợ của người đi vay và người đi vay tin tưởng vào khả năng trả nợ của chính mình. Theo ngôn ngữ Việt, tín dụng có nghĩa là việc đi vay-cho mượn. — Người 8 đi vay Người cho vay Có một số định nghĩa về tín dụng và các định nghĩa này là hơi khác nhau nhưng có các đặc điểm chung sau: - Có sự chuyển giao một lượng giá trị từ người này sang người khác; - Sự chuyển giao chỉ có tính chất tạm thời; - Khi hoàn trả lại lượng giá trị chuyển giao phải có một lượng dôi thêm gọi là lợi tức. Sự hoàn trả lại lượng giá trị là dấu hiệu để phân biệt giữa phạm trù tín dụng với các phạm trù khác.
Cơ sở khách quan của sự hình thành và phát triển tín dụng. - Do không trùng khớp giữa các chủ thể trong nền kinh tế về nhu cầu vốn - Để tiết kiệm chi phí giao dịch Quan hệ tín dụng Tài sản cho vay (principal) Gốc và lãi (principal + interest) Tín dụng ngân hàng thương mại được định nghĩa như sau: “ là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác và một bên là các doanh nghiệp, cá nhân; trong đó ngân hàng đóng vai trò là trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi tạm thời thiếu vốn. Khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là giá cả sử dụng vốn mà khách hàng phải trả cho ngân hàng nhằm bù đắp giá cả huy động vốn chi phí quản lý và lãi dự kiến của ngân hàng. Quan hệ tín dụng chỉ được diễn ra khi những cá nhân, tổ chức có nhu cầu đi vay và cho vay vốn gặp nhau trên thị trường với các ràng buộc về không gian, thời gian và các điều kiện khác đã được thỏa mãn.
Một số vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng - Khái niệm rủi ro tín dụng: Là rủi ro do một khách hàng hay một nhóm 9 khách hàng vay vốn không trả được nợ toàn bộ hay một phần nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Trong kinh doanh ngân hàng rủi ro tín dụng là rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề. Ngày nay nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh , cải tiến trang thiết bị kỹ thuật nâng cao công nghệ và các nhu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh luôn tăng lên. Để đáp ứng nhu cầu này các NHTM phải luôn mở rộng quy mô hoạt động tín dụng điều đó có nghĩa rủi ro tín dụng cũng phat sinh nhiều hơn.
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, việc quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn. Rủi ro tín dụng nếu không được phát hiện và sử lý kịp thời sẽ nảy sinh rủi ro khác. - Các loại rủi ro tín dụng cơ bản của NHTM: rủi ro mất vốn, rủi ro thời hạn, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro vế các điều kiện bảo đảm. Rủi ro mất vốn: là rủi ro cho vay không thu hồi được nợ.
Bản chất của tín dụng ngân hàng là ứng trước tiền cho người vay sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh thì khách hàng mới có tiền trả nợ ngân hàng. Nội dung ứng trước của tín dụng ngân hàng càng cao thì mức độ ruir ro càng lớn. Ngân hàng cho vay tín chấp mức độ rủi ro cao hơn cho vay có tài sản thế chấp. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng rủi ro này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản kinh doanh.
Rủi ro thời hạn: là các khoản cho vay mà khi đến hạn khách hàng vẫn chưa thu hồi được vốn để trả cho ngân hàng. Khoản tiền thu hồi chậm này có thể làm đảo lộn kế hoạch kinh doanh của ngân hàng và luôn tiềm ẩn nguy cơ mất vốn. Rủi ro lãi suất : quá trình chuyển hoá tài sản của ngân hàng bao gồm việc huy động vốn và sử dụng vốn. Kỳ hạn và độ thanh klhoản của các tài sản nợ thường không cân xứng với kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản có làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất.