CHƯƠNG 1 CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập theo quy chế của pháp luật,nhằm thực hiện mục tiêu sản xuất, kinh doanh, hoặc cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế - xã hội. Ở Việt Nam, thuật ngữ doanh nghiệp có thể được tìm hiểu thông qua Luật doanh nghiệp (2014). Tại khoản 7 điều 4 của luật này, doanh nghiệp được hiểu theo khái niệm như sau: "Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh". Tùy theo đặc thù về lĩnh vực hoạt động, hình thức tổ chức trong các lĩnh vực khác nhau, doanh nghiệp có thể hiểu dưới các thuật ngữ khác nhau: nhà máy, xí nghiệp, công ty, cửa hàng,.2 Các loại hình doanh nghiệp Căn cứ vào những tiêu chí khác nhau, doanh nghiệp có thể được phân loại như sau: - Căn cứ vào hình thức pháp lý doanh nghiệp: + Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
+ Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần 5 của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. + Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh). 2 Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.
Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn. + Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. + Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo quy định của pháp luật bằng nguồn vốn chủ sở hữu của người nước ngoài.
- Căn cứ vào chế độ trách nhiệm: + Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn: là loại hình doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp bằng tất cả tài sản của mình, khi doanh nghiệp không đủ tài sản để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của nó. Theo pháp luật, có hai loại doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh. + Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn: Theo quy định của pháp luật, các doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn cụ thể gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Những doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn là những doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Điều đó có nghĩa là khi số tài sản của doanh nghiệp không đủ để trả nợ thì chủ sở hữu không có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp. Chế độ trách nhiệm hữu hạn của các loại doanh nghiệp 6 trên thực chất là chế độ trách nhiệm hữu hạn của các nhà đầu tư - thành viên/chủ sở hữu công ty. - Căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp: + Doanh nghiệp lớn. + Doanh nghiệp vừa.
+ Doanh nghiệp nhỏ. + Doanh nghiệp siêu nhỏ. Để phân biệt các doanh nghiệp theo quy mô như trên, hầu hết ở các nước người ta dựa vào những tiêu chuẩn như: - Tổng số vốn đầu tư của doanh nghiệp. - Số lượng lao động trong doanh nghiệp.
- Doanh thu của doanh nghiệp. - Lợi nhuận hàng năm. Trong đó tiêu chuẩn tổng số vốn và số lao động được chú trong nhiều hơn, còn doanh thu và lợi nhuận được dùng kết hợp để phân loại. Tuy nhiên, khi lượng hóa những tiêu chuẩn nói trên thì tùy thuộc vào trình độ phát triển sản xuất ở mỗi quốc gia, tùy thuộc từng ngành cụ thể, ở các thời kỳ khác nhau mà số lượng được lượng hóa theo từng tiêu chuẩn giữa các quốc gia không giống nhau.
Theo quy định ở Việt Nam doanh nghiệp được phân loại như sau: - Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), Theo nghị định 56/2009/NĐ-CP cụ thể như sau: Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Quy mô Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ 7 Số Tổng Số Tổng Số Khu vực lao động nguồn vốn lao động nguồn vốn lao động Bảng 1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp tại Việt Nam I. Nông, 10 nguời trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 lâm nghiệp xuống trở xuống ngu i đến đồng đến ngu i đến và thủy sản 200 ngu i 100 tỷ đồng 300 ngu i II. Công từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 20 tỷ đồng nghiệp và ngu i đến đồng đến ngu i đến trở xuống xây dựng 200 ngu i 100 tỷ đồng 300 ngu i Iĩĩ từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 Thuơng 10 tỷ đồng ngu i đến đồng đến 50 ngu i đến mại và trở xuống 50 nguời tỷ đồng 100 nguời dịch vụ (Nguồn: Nghị định sô 56/2009/NĐ - CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ) - Doanh nghiệp lớn: dấu hiệu nhận biết doanh nghiệp lớn + Vốn: > 100 Tỷ + Lao động: > 300 nguời Xét về khía cạnh dấu hiệu nhận biết nhu trên, không hoàn t oàn chính xác và phản ánh quy mô doanh nghiệp lớn hay nhỏ, tuy nhiên nó cũng đuợc xem nhu là cái mốc để có sự phân biệt một cách khái quát và tổng thể hơn.3 Vai trò của các doanh nghiệp - Tạo công ăn việc làm cho nguời lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo.
- Đóng góp vào tăng truởng của tổng sản phẩm trong nuớc (GDP), đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nuớc và huy động ngày càng 8 nhiều nguồn vốn trong xã hội nhằm đầu tu và phát triển kinh tế. - Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và phân công lao động giữa các vùng - địa phuơng. - Góp phần đào tạo lực luợng lao động cơ động, linh hoạt, có chất luợng. - Ngoài ra còn góp phần tạo môi truờng kinh doanh, tự do cạnh tranh và giảm độc quyền, đẩy nhanh tiến trình hội nhập quốc tế, phát huy đuợc tiềm lực trong nuớc.2 Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp 1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp Tín dụng Ngân hàng là hoạt động tài trợ của Ngân hàng cho khách hàng, là loại hình dịch vụ chủ yếu của Ngân hàng - tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Tín dụng Ngân hàng là hình thức phát triển cao của tín dụng nói chung, về bản chất vẫn là quá trình chuyển dịch vốn duới hình thái tiền tệ hay hiện vật của một tổ chức hay cá nhân này cho một tổ chức hay cá nhân khác sử dụng trong một thời gian nhất định trên nguyên tắc hoàn trả. Nó luôn phát huy đuợc vai trò đáp ứng nhu cầu về vốn để duy trì và mở rộng quá trình tái sản xuất đồng th i đuợc sử dụng nhu một công cụ tài trợ cho những ngành kinh tế khác phát triển theo yêu cầu phát triển kinh tế của Nhà nuớc. Các ngân hàng thuơng mại có 2 hình thức cho vay chính là cho vay khách hàng cá nhân và cho vay khách hàng doanh nghiệp. Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp có thể đuợc hiểu là việc thỏa thuận giữa ngân hàng và doanh nghiệp, theo đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho doanh nghiệp sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp Cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp có những đặc điểm riêng biệt thể hiện sự khác biệt với các loại hình cho vay khác như sau: • Đối tượng cho vay: Là doanh nghiệp.
Chủ thể kinh tế rất phong phú về loại hình tổ chức, về trình độ phát triển, hoạt động ở mọi ngành nghề. • Quy mô khoản vay: Số lượng món vay tuy ít nhưng có quy mô lớn, do tín dụng doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp nhằm mục đích bổ xung vốn cố định, vốn lưu động trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. • Mục đích vay vốn: Vay mượn luôn xảy ra khi các doanh nghiệp tìm kiếm nguồn vốn đầu tư cho các nhà máy, cửa hàng và trang thiết bị mới. Các doanh nghiệp tìm cách vay để trang bị các cơ sở vật chất hoặc trang thiết bị mới nhằm tăng sản lượng và doanh số.
Các doanh nghiệp trông đợi sẽ thu được lợi nhuận từ các khoản vay này trong nhiều năm, vì vậy họ sẵn sàng trả tiền lãi cho nguồn quỹ mà họ sử dụng để mua các thiết bị đó và bắt đầu sản xuất ngay lập tức. Tất nhiên nếu lãi suất họ phải trả cao hơn tỷ suất lợi nhuận họ có thể thu được thì doanh nghiệp sẽ không vay vốn nữa. Ngoài ra, trong kinh doanh, khi những việc đột xuất xảy ra, các doanh nghiệp phải chi những khoản tiền như chi phí về quản lý, chi phí tai nạn lao động. Những việc đột xuất này có thể làm tài chính của doanh nghiệp hao hụt và phá vỡ các kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.