Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại phòng giao dịch Cẩm Phả - chi nhánh BIDV Quảng Ninh Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại PGD Cẩm Phả - CN BIDV Quảng Ninh Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô Hoàng Thị Hồng Lan – Thạc sĩ khoa Quản trị kinh doanh - ĐHDL Hải Phòng cùng Ban giám đốc và toàn thể cán bộ PGD Cẩm Phả - CN BIDV Quảng Ninh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành đề tài này. Do còn hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm nên bài viết không tránh khỏi thiếu sót, em kính mong nhận được sự góp ý của cô giáo và các cô chú, anh chị tại PGD Cẩm Phả - CN BIDV Quảng Ninh để em có thể hoàn thành đề tài đạt kết quả tốt. Sinh viên: Đỗ Thị Nga-Lớp QT1301T 2 Khóa luận tốt nghiệp TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1 Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Hiện nay trên thế giới, do đặc điểm kinh tế - xã hội của mỗi nước khác nhau, vì vậy mà không có một khái niệm thống nhất về Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN). Tuỳ theo thực trạng của các doanh nghiệp(DN), trình độ phát triển của mỗi nền kinh tế mà các nước có tiêu chí xác định cho riêng mình.Có rất nhiều tiêu chí phân loại nhưng chủ yếu dựa vào quy mô vốn và số lượng lao động.
Tiêu thức áp dụng Nƣớc Số lao động Tổng vốn hoặc giá trị tài sản Inđônêxia <100 <0.6 tỷ Rupi Xingapo <100 <499 triệu USD Thái Lan <100 <200 Bath <300 trong CN& XD <0.6 triệu USD Hàn Quốc <200 trong TM& DV <0.25 triệu USD <100 trong bán buôn <100 triệu yên Nhật Bản <50 trong bán lẻ <10 triệu yên EU <250 <27 triệu EURO Mỹ <500 <20 triệu USD Mêhyco <250 <7 triệu USD (Nguồn: Giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam – NXB CTQG, tr2). Tại Việt Nam, sau một thời gian nghiên cứu, học hỏi các quốc gia trên thế giới và theo sát thực tế thì ngày 23/11/2001 Chính Phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ - CP trong đó có điều 3 viết về khái niệm DNVVN như sau: "DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người". Theo khái niệm này thì ở Việt Sinh viên: Đỗ Thị Nga-Lớp QT1301T 3 Khóa luận tốt nghiệp TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG Nam có khoảng 93% trong tổng số DN hiện có là DNVVN, cụ thể 80% DNNN thuộc nhóm DNVVN. Khái niệm này chỉ mang tính chất tương đối, bởi nó còn tùy thuộc vào lĩnh vực mà DN đang hoạt động.
Mặc dù vậy, đây cũng là khái niệm mới nhất đang được áp dụng về DNVVN ở Việt Nam. Điều đó được coi là cần thiết và phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay nhằm đưa ra nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của DNVVN trong nền kinh tế. Cùng với sự phát triển không ngừng của kinh tế Việt Nam cũng như xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, khái niệm về DNVVN sẽ có thể tiếp tục được sửa đổi.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ Tuy mỗi quốc gia có một khái niệm về DNVVN khác nhau nhưng hầu hết các DNVVN đều mang những đặc điểm chung .Theo Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Việt Nam thì: 1. DNVVN có quy mô nhỏ về vốn đầu tư và số lượng lao động Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, số vốn đăng kí là dưới 10 tỷ đồng và số lượng lao động trung bình không quá 300 người.
Do đó, có thể nói quy mô hoạt động của những doanh nghiệp này là không lớn khi so sánh trong tương quan nền kinh tế. Quy mô vốn nhỏ bé, nên hầu hết các doanh nghiệp này đều gặp khó khăn về vốn. Việc tiếp cận với các nguồn tài chính khác với những doanh nghiệp này cũng là một vấn đề nan giải. Nguồn vốn tự có thấp, khả năng tiếp cận với các nguồn vốn từ những tổ chức tín dụng thấp đã khiến cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp hàng loạt các khó khăn khác trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Mô hình tổ chức của các DNVVN đơn giản, chi phí quản lý, đào tạo thấp. Việc tổ chức sản xuất cũng như quản lý các DNVVN tương đối đơn giản, gọn nhẹ. Chủ DN dễ dàng hơn trong việc nắm bắt thông tin, điều hành, có sự gần gũi thường xuyên với nhân viên. Vì vậy rất ít hoặc không có xảy ra mâu thuẫn giữa lao động và chủ DN.
Các quyết định, các chỉ tiêu đưa ra tới Sinh viên: Đỗ Thị Nga-Lớp QT1301T 4 Khóa luận tốt nghiệp TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG với người lao động một cách nhanh chóng, hạn chế các khâu trung gian, tiết kiệm chi phí. DNVVN có khả năng cạnh tranh thấp DNVVN thường gặp khó khăn trong việc khẳng định chỗ đứng trên thị trường. Do đặc điểm lượng vốn hoạt động nhỏ, khả năng tiếp cận các nguồn tài chính khác thấp nên các DNVVN thường gặp khó khăn trong việc mở rộng quy mô, triển khai dự án lớn và đầu tư mới. Không đủ vốn để nâng cấp, đổi mới các máy móc thiết bị, nghiên cứu khoa học kĩ thuật, các DN này thường sử dụng công nghệ lỗi thời.
Vì thế sản phẩm sản xuất ra thường có chất lượng không cao. Bên cạnh đó, DNVVN có nhiều hạn chế trong công tác marketing, khuếch trương, quảng bá do đó làm giảm khả năng chiếm lĩnh thị trường và phát triển của DN. DNVVN chịu nhiều ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài Số lượng các DNVVN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số DN, tuy nhiên lượng vốn của các DN này lại không chiếm phần lớn lượng vốn của nền kinh tế. Trong nền kinh tế, DN lớn là trụ cột và DNVVN thường là vệ tinh quanh DN lớn, hoặc nếu là đối thủ thì cũng luôn tránh phải đối đầu trực tiếp vì khả năng cạnh tranh thấp.
DNVVN hoạt động không chỉ tuân theo xu thế vận động của nền kinh tế mà còn chịu nhiều ảnh hưởng từ DN lớn. DNVVN rất linh hoạt, nhạy cảm và dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường Các DNVVN thường có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu dùng, luôn cập nhật thông tin về DN lớn và đối thủ nên phản ứng nhanh nhạy, kịp thời với biến động của thị trường, đáp ứng được xu thế tiêu dùng. Do chỉ cần một lượng vốn bổ sung không nhiều, các doanh nghiệp này có thể dễ dàng đổi mới thiết bị và công nghệ hơn so với các doanh nghiệp lớn. Đồng thời DNVVN có thể kết hợp được cả công nghệ truyền thống và hiện đại ,ứng dụng được các kĩ thuật tiên tiến kết hợp tự động hoá, cơ khí hoá với lao động thủ công, trên cơ sở đó từng bước đổi mới công nghệ.
Sinh viên: Đỗ Thị Nga-Lớp QT1301T 5 Khóa luận tốt nghiệp TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG 1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trƣờng 1. Tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp Theo số liệu thống kê năm 2011của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, DNVVN của nước ta chiếm trên 80% tổng số doanh nghiệp, tạo công ăn việc làm cho khoảng 95% lao động xã hội .Các DNVVN được cho là một trong những phương tiện giải quyết thất nghiệp hiệu quả nhất. Do các DNVVN tham gia kinh doanh ở tất cả các ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế với đa dang các sản phẩm nên có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều đối tượng lao động ở nhiều vùng miền khác nhau. Mặt khác, do đặc điểm sản xuất kinh doanh không yêu cầu trình độ cao nên có thể sử dụng được các lao động ở các vùng sâu, vùng xa, vùng chưa phát triển kinh tế.
Đặc biệt khi nền kinh tế khủng hoảng, trong khi các DN lớn thường phải sa thải nhân công để cắt giảm chi phí thì các DNVVN với tính chất linh hoạt, năng động của mình, có thể thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường, có thể đứng vững mà không phải cắt giảm nhân công.2 Đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế Với quy mô vừa và nhỏ, các DNVVN có thể triển khai hoạt động ở mọi nơi, kể cả những nơi cơ sở hạ tầng chưa phát triển nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, phát triển kinh tế địa phương. Quy mô hoạt động cũng như trình độ công nghệ của các DN này rất thích hợp với những ngành cần nhiều lao động thủ công như ngành chế biến thuỷ, hải sản, may mặc, da giày, mà đây lại là những ngành đem lại kim ngạch xuất khẩu cao cho cả nước. Bên cạnh đó, do lợi thế của mình các DNVVN rất thích hợp với khu vực kinh doanh thương mại, dịch vụ bán lẻ. Trong khi đó các doanh nghiệp lớn khó có thể tổ chức được một mạng lưới bán lẻ để tiêu thụ hàng hoá của mình mà phải thông qua mạng lưới bán lẻ của DNVVN.
Chính vì vậy, DNVVN đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng ở mọi nơi một cách nhanh chóng thuận tiện, từ đó rút ngắn khoảng cách về kinh tế giữa các vùng, Sinh viên: Đỗ Thị Nga-Lớp QT1301T 6 Khóa luận tốt nghiệp TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG góp phần làm cho nền kinh tế phát triển một cách đồng đều trên khắp cả nước. Sự phát triển của các DNVVN đã góp phần đáng kể trong việc giải quyết công ăn việc làm, tăng thu cho ngân sách Nhà nước cũng như tăng trưởng của cả nền kinh tế. Tạo ra sự linh hoạt cho nền kinh tế Sự phát triển DNVVN đã thu hút được một lượng lớn lao động nông nghiệp ở các vùng nông thôn sang hoạt động ở lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, đẩy nhanh quá trình đô thị hoá. Bên cạnh đó còn góp phần chuyến dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Hơn nữa, số DNVVN tăng lên còn tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các DN trong nền kinh tế. Trong đó, sản phẩm đưa ra nếu không muốn bị đào thải thì phải không ngừng nâng cao chất lượng và giảm chi phí.