Chương 1: Giới thiệu CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN CHUYỂN TIỀN TẠI NGÂN HÀNG TNHH MTV ANZ VIỆT NAM. Đây là chƣơng quan trọng và cũng bao hàm những nội dung chính của khóa luận. Các thông tin của chƣơng này cung cấp sẽ là nền tảng và cơ sở để đƣa ra những giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh toán chuyển tiền đƣợc đề cập đến ở chƣơng 4. Chƣơng này đề cập đến những vấn đề chính nhƣ giới thiệu tổng quan về ngân hàng ANZ Việt Nam, trong đó trình bày sơ các thông tin chính về các mảng hoạt động kinh doanh cũng nhƣ kết quả kinh doanh của ngân hàng trong thời gian qua.
Tiếp đến là giới thiệu sơ lƣợc về hoạt động thanh toán chuyển tiền tại ngân hàng, bao gồm cơ sở pháp lý cho hoạt động chuyển tiền và các quy trình nghiệp vụ của phƣơng thức thanh toán này tại ANZ. Phần quan trọng kế đến là thực trạng hoạt động thanh toán bằng phƣơng thức chuyển tiền trong giai đoạn 3 năm gần đây nhất 2011-2013. Từ tình hình thanh toán hiện tại đề đƣa ra các đánh giá chung về những thành tựu đạt đƣợc cũng nhƣ những mặt còn hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trên. CHƢƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN CHUYỂN TIỀN TẠI NGÂN HÀNG TNHH MTV ANZ VIỆT NAM.
Chƣơng cuối cùng trình bày những vấn đề cốt lõi về định hƣớng phát triển hoạt động chuyển tiền tại ngân hàng từ những nhận định về kết quả và các mặt còn hạn chế trong công tác thanh toán chuyển tiền giai đoạn vừa qua. Qua đó, đề xuất một số giải pháp đối với ngân hàng trong việc nâng cao chất lƣợng hoạt động thanh toán chuyển tiền trong thời gian sắp tới. SVTH: Đỗ Thị Minh Hạnh Trang 4 Chương 2: Cơ sở lý luận về phương thức thanh toán chuyển tiền CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƢƠNG THỨC THANH TOÁN CHUYỂN TIỀN 2.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ: 2.1 Khái niệm: Theo tác giả Hƣơng Trầm (2010), thanh toán quốc tế (International settlement) là quá trình thực hiện các khoản thu chi quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nƣớc với nhau. Còn đối với TS.Anh Võ và các tác giả (2011) thì cho rằng, quan hệ thanh toán quốc tế có thể hiểu là quan hệ thanh toán (chi trả, thu nhận, thụ hƣởng) giữa các chủ thể của quốc gia này với các chủ thể của quốc gia khác và với các tổ chức quốc tế.
Nhƣ vậy, thanh toán quốc tế là nghiệp vụ có liên quan đến hệ thống ngân hàng quốc tế đƣợc hình thành và phát triển trên nền tảng hoạt động ngoại thƣơng và các quan hệ trao đổi quốc tế. Nghiệp vụ này đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn cao, ứng dụng công nghệ tiên tiến, tạo sự kết nối hài hòa giữa ngân hàng trong nƣớc với hệ thống ngân hàng trên thế giới.2 Đặc điểm: Theo Hƣơng Trầm (2010), hoạt động thanh toán quốc tế (TTQT) thể hiện những đặc điểm cơ bản sau đây: - Hoạt động TTQT bao gồm hai bộ phận: thanh toán phục vụ cho các khoản giao dịch mang tính mậu dịch và phi mậu dịch. - Hoạt động TTQT đƣợc thực hiện trên nền tảng pháp luật và tập quán thƣơng mại quốc tế, đồng thời phải đƣợc vận dụng một cách khéo léo trên cơ sở kết hợp với pháp luật trong nƣớc. - Hoạt động TTQT phải đạt tiêu chuẩn nghiệp vụ NH quốc tế, nên đòi hỏi các NHTM khi thực hiện nghiệp vụ này phải có năng lực tài chính vững mạnh, trình độ nghiệp vụ cao, công nghệ tiên tiến và mạng lƣới đại lý rộng rãi khắp trên thế giới nhằm thực hiện các khoản thanh toán nhanh chóng và an toàn.
- Hoạt động TTQT chịu ảnh hƣởng bởi các chính sách kinh tế, chính sách ngoại thƣơng và ngoại hối quốc gia. SVTH: Đỗ Thị Minh Hạnh Trang 5 Chương 2: Cơ sở lý luận về phương thức thanh toán chuyển tiền - Kỹ thuật thanh toán của ngân hàng đƣợc thực hiện dựa trên chứng từ chứ không dựa vào hàng hóa, nên bộ chứng từ đóng vai trò quan trọng trong TTQT.3 Các phƣơng thức thanh toán quốc tế: Các phƣơng thức TTQT phổ biến nhất hiện nay là: Chuyển tiền: điện chuyển tiền (TT – Telegraphic Transfer Remittance) hoặc bằng thƣ chuyển tiền (MT – Mail Transfer Remittance) Trả tiền lấy chứng từ (CAD – Cast Against Document) Nhờ thu (Collection) Tín dụng thƣ (L/C – Letter of Credit) Trong thanh toán có thể kể đến hai hình thức thanh toán là thanh toán mậu dịch và phi mậu dịch: Thanh toán phi mậu dịch: là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan đến hàng hóa cũng nhƣ cung ứng dịch vụ, nó không mang tính thƣơng mại. Đó là những chi phí của các cơ quan ngoại giao, ngoại thƣơng ở nƣớc sở tại, các chi phí về vận chuyển và đi lại của các đoàn khách nhà nƣớc, các tổ chức của từng cá nhân… Thanh toán mậu dịch: khác hoàn toàn với thanh toán phi mậu dịch, thanh toán mậu dịch phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hóa và các dịch vụ thƣơng mại, theo giá cả quốc tế. Thông thƣờng trong nghiệp vụ thanh toán mậu dịch phải có chứng từ hàng hoá kèm theo.
Các bên mua bán bị ràng buộc với nhau bởi hợp đồng thƣơng mại hoặc bằng một hình thức cam kết khác nhƣ thƣ, điện giao dịch…Mỗi hợp đồng chỉ ra một mối quan hệ nhất định, nội dung hợp đồng phải quy định rõ cách thức thanh toán dịch vụ thƣơng mại phát sinh.4 Vai trò: Trong TTQT, NH đóng vai trò trung gian thanh toán giúp cho quá trình thanh toán đƣợc tiến hành an toàn, nhanh chóng, tiện lợi và giảm bớt chi phí thay vì thanh toán bằng tiền mặt. Với sự ủy thác của khách hàng, NH không chỉ bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong giao dịch thanh toán mà còn tƣ vấn cho khách hàng nhằm tạo sự an tâm tin tƣởng và hạn chế rủi ro trong quan hệ giao dịch mua bán và thanh toán. SVTH: Đỗ Thị Minh Hạnh Trang 6 Chương 2: Cơ sở lý luận về phương thức thanh toán chuyển tiền Thanh toán không chỉ làm tăng thu nhập của NH bằng những khoản phí, hoa hồng mà còn tạo điều kiện cho NH tăng thêm nguồn vốn của mình do khách hàng mở tài khoản, hoặc ký quỹ tại NH. TTQT là khâu cuối cùng kết thúc quá trình lƣu thông hàng hóa, nếu nhƣ quá trình thanh toán đƣợc tiến hành một cách liên tục nhanh chóng, thuận lợi, giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu đƣợc thực hiện, có tác dụng đẩy nhanh tốc độ thanh toán và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Bên cạnh đó thông qua quá trình giao dịch với ngân hàng từng khâu trong quá trình thanh toán, nếu doanh nghiệp thiếu vốn thì NH sẽ có mặt kịp thời tài trợ vốn, hỗ trợ về kỹ thuật thanh toán thông qua việc hƣớng dẫn, tƣ vấn tận tình giúp doanh nghiệp vƣợt qua khó khăn và hạn chế thấp nhất những rủi ro trong thanh toán quốc tế có thể xảy ra.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƢƠNG THỨC THANH TOÁN CHUYỂN TIỀN: 2.1 Khái niệm: Phƣơng thức chuyển tiền là phƣơng thức mà trong đó khách hàng (ngƣời trả tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một ngƣời khác (ngƣời hƣởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phƣơng tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu.2 Đối tƣợng tham gia: Ngƣời chuyển tiền: là ngƣời mua, ngƣời nhập khẩu hay ngƣời mắc nợ. Ngân hàng chuyển tiền: là ngân hàng phục vụ ngƣời chuyển tiền Ngân hàng đại lý: là ngân hàng phục vụ cho ngƣời thụ hƣởng và có quan hệ đại lý với ngân hàng chuyển tiền. Ngƣời thụ hƣởng: là ngƣời bán, ngƣời xuất khẩu hay là chủ nợ. SVTH: Đỗ Thị Minh Hạnh Trang 7 Chương 2: Cơ sở lý luận về phương thức thanh toán chuyển tiền 2.3 Quy trình thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền: Hình 2.1: Trình tự nghiệp vụ thanh toán chuyển tiền Các bƣớc thực hiện: (1) Giao dịch thƣơng mại.
(2) Ngƣời chuyển tiền viết đơn yêu cầu chuyển tiền (bằng thƣ hoặc điện) cùng Ủy nhiệm chi (nếu có tài khoản mở tại NH) (3) Ngân hàng nhận chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng đại lý của mình ở nƣớc ngoài chuyển tiền cho ngƣời hƣởng lợi. (4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho ngƣời hƣởng lợi. Đối với ngân hàng có hai nghiệp vụ: chuyển tiền đi và chuyển tiền đến.1 Quy trình thanh toán chuyển tiền đi: Khi chuyển tiền đi, nghiệp vụ ngân hàng diễn ra theo 4 bƣớc: (1) Tiếp nhận hồ sơ xin chuyển tiền; (2) Kiểm tra hồ sơ chuyển tiền đi; (3) Lập điện chuyển tiền và (4) Hạch toán – Lƣu hồ sơ. SVTH: Đỗ Thị Minh Hạnh Trang 8 Chương 2: Cơ sở lý luận về phương thức thanh toán chuyển tiền Hình 2.2: Trình tự nghiệp vụ chuyển tiền đi 2.2 Quy trình thanh toán chuyển tiền đến: Khi chuyển tiền đến, ngân hàng thực hiện thanh toán theo ba bƣớc: (1) Tiếp nhận lệnh chuyển tiền; (2) Thanh toán cho ngƣời hƣởng lợi (3) Lƣu hồ sơ.3: Trình tự nghiệp vụ chuyển tiền đến SVTH: Đỗ Thị Minh Hạnh Trang 9 Chương 2: Cơ sở lý luận về phương thức thanh toán chuyển tiền 2.4 Các hình thức chuyển tiền: Chuyển tiền có thể thực hiện dƣới hai hình thức: chuyển bằng thƣ (Mail transfer – M/T) và chuyển tiền bằng điện (Telegraphic transfer – T/T).
Mỗi hình thức chuyển tiền đều có ƣu nhƣợc điểm riêng. Theo hình thức thứ nhất, ngân hàng thực hiện chuyển tiền bằng cách gửi thƣ cho ngân hàng đại lý ở nƣớc ngoài trả tiền cho ngƣời hƣởng lợi. Theo hình thức này, chi phí chuyển tiền thấp, nhƣng tốc độ chậm, do vậy dễ bị ảnh hƣởng nếu có biến động nhiều về tỷ giá. Chuyển tiền bằng điện tức là ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền bằng cách ra lệnh bằng điện cho ngân hàng đại lý của mình ở nƣớc ngoài trả tiền cho ngƣời hƣởng lợi.
Theo cách này, chi phí chuyển tiền cao hơn nhƣng nhanh chóng hơn, do vậy ít bị ảnh hƣởng của biến động tỷ giá. Có hai hình thức: chuyển tiền bằng điện thông thƣờng (Telex) và chuyển tiền thông qua mạng SWIFT1 Ngày nay với sự phát triển của công nghệ thông tin, hầu hết các chuyển tiền đều đƣợc thực hiện quat mạng SWIFT (Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunications) vì vừa nhanh, vừa tiện và chi phí chuyển tiền cũng ở mức hợp lý có thể chấp nhận đƣợc.5 Các rủi ro trong phƣơng thức thanh toán chuyển tiền: Ngân hàng đóng vai trò là trung gian thanh toán phục vụ khách hàng, với vị trí trung gian giữa ngƣời chuyển trả tiền và ngƣời thụ hƣởng, thực hiện lệnh của các bên liên quan.