Luận văn: Chất lượng thẩm định giá tài sản cấp tín dụng tại Việt Nam - Lê Phương Mai

Luận văn phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định giá tài sản phục vụ hoạt động cấp tín dụng tại Việt Nam.

Trường đại học

Học Viện Ngân Hàng

Chuyên ngành

Tài Chính - Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ Kinh Tế

2014

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG TẠI CÁC CÔNG TY THẨM ĐỊNH GIÁ

1.1. TỔNG QUAN VỀ CÁC TỔ CHỨC THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN

1.1.1. Khái niệm về tổ chức thẩm định giá tài sản

1.1.2. Đặc điểm hoạt động của các tổ chức thẩm định giá tài sản

1.1.3. Nguyên tắc hoạt động của các tổ chức thẩm định giá tài sản

1.2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THUƠNG MẠI

1.2.1. Tổng quan về tình hình hoạt động cấp tín dụng tại các ngân hàng thương mại

1.2.2. Lý luận chung về chất lượng thẩm định giá tài sản

1.2.3. Chất lượng thẩm định giá tài sản trong hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại tại các Công ty thẩm định giá

1.2.4. Các tiêu chí đánh giá chất lượng thẩm định giá

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG TẠI CÁC CÔNG TY THẨM ĐỊNH GIÁ

1.3.1. Nhóm nhân tố khách quan

1.3.2. Nhóm nhân tố chủ quan

1.4. Tóm tắt chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG TẠI CÁC CÔNG TY THẨM ĐỊNH GIÁ

2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY THẨM ĐỊNH GIÁ

2.1.1. Sự hình thành và phát triển của các công ty thẩm định giá

2.1.2. Các căn cứ pháp lý cho hoạt động TĐG của các tổ chức thẩm định giá tài sản ở Việt Nam

2.2. THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG TẠI CÁC CÔNG TY THẨM ĐỊNH GIÁ

2.2.1. Thực trạng về chất lượng cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại

2.2.2. Thực trạng chất lượng thẩm định giá tài sản trong hoạt động cấp tín dụng tại các Công ty thẩm định giá ở Việt Nam

2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG TẠI CÁC CÔNG TY THẨM ĐỊNH GIÁ Ở VIỆT NAM

2.3.1. Kết quả đạt được

2.3.2. Các mặt còn hạn chế

2.4. Tóm tắt chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG TẠI CÁC CÔNG TY THẨM ĐỊNH GIÁ

3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG TRONG THỜI GIAN TỚI

3.1.1. Tiềm năng phát triển hoạt động thẩm định giá tài sản trong hoạt động cấp tín dụng tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam

3.1.2. Định hướng nâng cao chất lượng thẩm định giá tài sản trong hoạt động cấp tín dụng thời gian tới

3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG TẠI CÁC CÔNG TY THẨM ĐỊNH GIÁ Ở VIỆT NAM

3.2.1. Hoàn thiện hành lang pháp lý

3.2.2. Nâng cao chất lượng công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành thẩm định giá

3.2.3. Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho thẩm định giá

3.2.4. Hoàn thiện phương pháp thẩm định giá

3.2.5. Hoàn thiện quy trình thẩm định giá

3.3. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

3.3.1. Về phía Hội thẩm định giá Việt Nam

3.3.2. Về phía các ngân hàng thương mại

3.3.3. Về phía khách hàng thuê tổ chức thẩm định giá tài sản

3.4. Tóm tắt chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Vai trò của chất lượng thẩm định giá trong quản lý rủi ro tín dụng

Hoạt động cấp tín dụng là nguồn thu nhập chính, quyết định sự phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại (NHTM). Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro nợ xấu. Luận văn của Lê Phương Mai (2014) chỉ ra rằng, tình hình nợ xấu tại các NHTM Việt Nam gia tăng nhanh chóng từ năm 2008, một phần nguyên nhân đến từ việc định giá tài sản đảm bảo cao hơn giá trị thực tế. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác thẩm định giá. Chất lượng thẩm định giá không chỉ là việc xác định một con số, mà là nền tảng để đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng. Một báo cáo thẩm định giá chính xác, khách quan giúp tổ chức tín dụng ra quyết định cho vay đúng đắn, xác định hạn mức tín dụng phù hợp và có cơ sở vững chắc để xử lý tài sản khi rủi ro xảy ra. Ngược lại, thẩm định giá kém chất lượng có thể dẫn đến các khoản vay dưới chuẩn, làm tăng tỷ lệ nợ xấu và gây tổn thất tài chính nghiêm trọng. Do đó, việc phòng ngừa rủi ro thẩm định được xem là một trong những ưu tiên hàng đầu trong hoạt động quản lý rủi ro tín dụng hiện đại. Sự ra đời và phát triển của các công ty thẩm định giá độc lập là một yêu cầu tất yếu của kinh tế thị trường, góp phần minh bạch hóa và nâng cao độ tin cậy cho hoạt động này.

1.1. Sự cần thiết của thẩm định giá độc lập trong hoạt động tín dụng

Trước đây, hoạt động thẩm định giá cho vay thế chấp phần lớn là công việc nội bộ của ngân hàng. Tuy nhiên, mô hình này tiềm ẩn xung đột lợi ích và hạn chế về kinh nghiệm, dẫn đến định giá thiếu khách quan. Việc sử dụng dịch vụ từ các tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp là một thông lệ ở các thị trường phát triển. Vai trò của thẩm định giá độc lập là đưa ra giá trị xác thực nhất của tài sản, đảm bảo tính khách quan và công bằng, bảo vệ quyền lợi của cả bên cho vay và bên đi vay. Một tổ chức độc lập, hoạt động dưới khung pháp lý thẩm định giá rõ ràng, sẽ không bị chi phối bởi áp lực chỉ tiêu cho vay hay lợi ích từ khách hàng, từ đó cung cấp một kết quả đáng tin cậy hơn, làm giảm thiểu rủi ro cho toàn hệ thống.

1.2. Các tiêu chí cốt lõi đánh giá chất lượng một báo cáo thẩm định giá

Chất lượng của một báo cáo thẩm định không chỉ nằm ở con số cuối cùng. Nó được đánh giá dựa trên nhiều tiêu chí. Thứ nhất là tính tuân thủ các chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam và thông lệ quốc tế. Thứ hai là sự đầy đủ, chính xác và minh bạch của thông tin, dữ liệu được sử dụng. Một cơ sở dữ liệu giá đáng tin cậy là nền tảng cho kết quả chính xác. Thứ ba là việc áp dụng đúng đắn các phương pháp thẩm định giá phù hợp với từng loại tài sản và mục đích thẩm định. Cuối cùng, một báo cáo chất lượng phải có lập luận logic, các giả định hợp lý và nêu rõ những điều kiện hạn chế có thể ảnh hưởng đến kết quả.

II. TOP rủi ro ảnh hưởng chất lượng thẩm định giá tài sản đảm bảo

Chất lượng thẩm định giá cấp tín dụng chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, có thể phân thành hai nhóm chính: khách quan và chủ quan. Việc nhận diện và kiểm soát các yếu tố này là bước đầu tiên để xây dựng các giải pháp hiệu quả. Các rủi ro phát sinh từ những yếu tố này không chỉ làm sai lệch giá trị tài sản mà còn có thể gây ra những hậu quả pháp lý và tài chính lâu dài cho các tổ chức tín dụng. Theo nghiên cứu, sự thiếu minh bạch của thị trường, sự biến động của kinh tế vĩ mô và những bất cập trong hệ thống pháp luật là những thách thức lớn. Bên cạnh đó, các yếu tố thuộc về con người như trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cũng đóng vai trò quyết định. Rủi ro đạo đức trong thẩm định giá là một trong những vấn đề nhức nhối, khi thẩm định viên có thể bị tác động để đưa ra kết quả có lợi cho một bên, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng tín dụng và phá vỡ lòng tin của thị trường. Việc giám sát sau thẩm định cũng chưa được chú trọng đúng mức, tạo kẽ hở cho các sai sót và hành vi tiêu cực.

2.1. Phân tích các nhân tố khách quan Môi trường pháp lý và thị trường

Nhóm nhân tố khách quan bao gồm môi trường kinh tế, hệ thống pháp lý và sự phát triển của thị trường. Một nền kinh tế bất ổn sẽ khiến việc dự báo giá trị trở nên khó khăn. Quan trọng hơn, khung pháp lý thẩm định giá tại Việt Nam vẫn còn những điểm chưa đồng bộ, các văn bản hướng dẫn đôi khi thiếu sót, gây khó khăn cho việc áp dụng thống nhất. Tính minh bạch của thị trường, đặc biệt là thị trường bất động sản, còn hạn chế. Việc thiếu một hệ thống thông tin tín dụng và dữ liệu giá công khai, đầy đủ, được kiểm chứng khiến thẩm định viên phải mất nhiều thời gian thu thập thông tin và kết quả có thể không đảm bảo độ chính xác cao.

2.2. Nhóm nhân tố chủ quan Năng lực chuyên viên và rủi ro đạo đức

Năng lực chuyên viên thẩm định là yếu tố then chốt. Thực trạng cho thấy trình độ nguồn nhân lực trong ngành chưa đồng đều, nhiều người thiếu kinh nghiệm thực tiễn hoặc chưa được đào tạo bài bản về các loại tài sản đặc thù. Yếu tố nguy hiểm hơn là rủi ro đạo đức trong thẩm định giá. Áp lực từ phía khách hàng, ngân hàng hoặc sự thông đồng vì lợi ích cá nhân có thể khiến thẩm định viên cố tình bỏ qua các yếu tố rủi ro hoặc nâng giá tài sản một cách vô căn cứ. Điều này không chỉ vi phạm đạo đức nghề nghiệp mà còn là hành vi gây thiệt hại trực tiếp đến an toàn hoạt động ngân hàng.

III. Giải pháp tối ưu quy trình nâng cao năng lực thẩm định viên

Để giải quyết các vấn đề tồn tại, nhóm giải pháp tập trung vào con người và quy trình nghiệp vụ đóng vai trò nền tảng. Không một công nghệ hay hệ thống nào có thể thay thế hoàn toàn vai trò của một chuyên viên có năng lực và một quy trình làm việc chặt chẽ. Việc chuẩn hóa quy trình thẩm định giá là yêu cầu cấp thiết. Quy trình này cần được xây dựng chi tiết, từ bước tiếp nhận yêu cầu, khảo sát thực địa, thu thập và phân tích dữ liệu, đến lập báo cáo và kiểm soát nội bộ. Mỗi bước phải có hướng dẫn rõ ràng và cơ chế kiểm tra, giám sát chéo để hạn chế sai sót. Đồng thời, việc đầu tư vào con người thông qua đào tạo nghiệp vụ thẩm định giá là một chiến lược dài hạn. Các chương trình đào tạo cần cập nhật liên tục các phương pháp thẩm định giá mới, các quy định pháp luật và đặc biệt nhấn mạnh về đạo đức nghề nghiệp. Một đội ngũ thẩm định viên vừa giỏi chuyên môn, vừa có đạo đức sẽ là tài sản quý giá nhất, đảm bảo cho sự thành công của hoạt động thẩm định tài sản đảm bảo.

3.1. Hoàn thiện quy trình thẩm định giá theo chuẩn mực Việt Nam

Việc chuẩn hóa quy trình thẩm định giá phải dựa trên các chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam do Bộ Tài chính ban hành. Cần xây dựng các sổ tay nghiệp vụ chi tiết cho từng loại tài sản, quy định rõ ràng về nguồn thông tin được chấp nhận, cách thức điều chỉnh các yếu tố so sánh và phương pháp kiểm tra lại kết quả. Cần thiết lập một bộ phận kiểm soát chất lượng độc lập trong mỗi công ty thẩm định giá, có trách nhiệm rà soát, phản biện các báo cáo thẩm định giá trước khi phát hành chính thức. Quy trình định giá lại tài sản đảm bảo định kỳ cũng cần được quy định rõ ràng để cập nhật giá trị tài sản theo biến động thị trường.

3.2. Nâng cao chất lượng đào tạo nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp

Hoạt động đào tạo nghiệp vụ thẩm định giá cần được thực hiện thường xuyên và chuyên sâu. Nội dung không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà phải gắn liền với các tình huống thực tế, các bài học kinh nghiệm từ những sai sót đã xảy ra. Đặc biệt, cần tăng cường giáo dục về đạo đức nghề nghiệp và các chế tài xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm. Việc tổ chức các kỳ thi sát hạch năng lực định kỳ để duy trì và nâng cao năng lực chuyên viên thẩm định là cần thiết, đảm bảo chỉ những cá nhân đủ tiêu chuẩn mới được hành nghề.

IV. Bí quyết ứng dụng công nghệ để nâng cao chất lượng thẩm định

Bên cạnh yếu tố con người, công nghệ là đòn bẩy mạnh mẽ để tạo ra sự đột phá trong việc nâng cao chất lượng thẩm định giá. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mang đến những công cụ hữu hiệu giúp giải quyết các bài toán về dữ liệu và tự động hóa. Công nghệ trong thẩm định giá không chỉ giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí mà còn tăng cường tính chính xác và khách quan. Giải pháp trọng tâm là xây dựng một cơ sở dữ liệu giá tập trung, toàn diện và được cập nhật theo thời gian thực. Hệ thống này thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như các giao dịch công khai, giá niêm yết, dữ liệu từ cơ quan nhà nước, và được xử lý bằng các thuật toán để loại bỏ thông tin nhiễu. Các công nghệ mới như Proptech (Công nghệ Bất động sản), ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) và Dữ liệu lớn (Big Data) có thể giúp phân tích các xu hướng thị trường, tự động đề xuất giá trị tham khảo và nhận diện các yếu tố rủi ro tiềm ẩn mà con người có thể bỏ sót. Việc ứng dụng công nghệ sẽ là xu thế tất yếu, giúp hoạt động thẩm định giá trở nên minh bạch và hiệu quả hơn.

4.1. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu giá toàn diện và minh bạch

Một cơ sở dữ liệu giá mạnh là xương sống của hoạt động thẩm định hiện đại. Hệ thống này cần được thiết kế để có thể thu thập, chuẩn hóa và lưu trữ dữ liệu về giá giao dịch, giá chào bán, thông tin quy hoạch, pháp lý của nhiều loại tài sản khác nhau. Việc liên thông dữ liệu giữa các công ty thẩm định giá, các ngân hàng và cơ quan quản lý nhà nước sẽ làm giàu thêm nguồn dữ liệu, tăng độ tin cậy. Dữ liệu minh bạch và dễ dàng truy xuất sẽ giúp thẩm định viên có cơ sở vững chắc để so sánh, phân tích, giảm sự phụ thuộc vào các nguồn thông tin không chính thống.

4.2. Vai trò của công nghệ Proptech và AI trong tự động hóa thẩm định

Công nghệ trong thẩm định giá, đặc biệt là Proptech, đang mở ra nhiều cơ hội mới. Các mô hình định giá tự động (Automated Valuation Models - AVM) sử dụng AI có thể xử lý hàng triệu điểm dữ liệu để đưa ra một ước tính giá trị ban đầu gần như ngay lập tức. Công nghệ này đặc biệt hữu ích cho các tài sản có tính chuẩn hóa cao. Mặc dù không thể thay thế hoàn toàn thẩm định viên, AVM là công cụ hỗ trợ đắc lực, giúp kiểm tra chéo kết quả, nhận diện các giao dịch bất thường và cung cấp một góc nhìn khách quan dựa trên dữ liệu lớn, góp phần phòng ngừa rủi ro thẩm định hiệu quả.

V. Định hướng nâng cao chất lượng thẩm định giá trong tương lai

Nâng cao chất lượng thẩm định giá cấp tín dụng là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ từ nhiều phía: cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức tín dụng, các công ty thẩm định giá và chính các thẩm định viên. Định hướng phát triển trong tương lai cần tập trung vào việc hoàn thiện môi trường pháp lý, thúc đẩy vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp và tăng cường hợp tác quốc tế. Nhà nước cần tiếp tục rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam để tiệm cận với các tiêu chuẩn quốc tế. Các ngân hàng thương mại cần thay đổi tư duy, xem các công ty thẩm định giá độc lập là đối tác chiến lược trong việc quản lý rủi ro tín dụng, thay vì chỉ là một đơn vị cung cấp dịch vụ đơn thuần. Về phía các công ty thẩm định giá, cần chủ động đầu tư vào công nghệ, con người và xây dựng văn hóa doanh nghiệp dựa trên sự chính trực và chuyên nghiệp. Một môi trường cạnh tranh lành mạnh, nơi chất lượng và uy tín là yếu tố quyết định, sẽ là động lực để toàn ngành cùng phát triển, đóng góp vào sự ổn định và minh bạch của thị trường tài chính.

5.1. Hoàn thiện khung pháp lý thẩm định giá theo thông lệ quốc tế

Một khung pháp lý thẩm định giá vững chắc là nền móng cho sự phát triển của ngành. Cần có những quy định rõ ràng hơn về trách nhiệm của thẩm định viên và công ty thẩm định giá khi có sai sót xảy ra, đồng thời quy định về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Việc nghiên cứu, học hỏi và áp dụng có chọn lọc các tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế (IVS) sẽ giúp nâng cao chất lượng và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn vào thị trường tài chính toàn cầu.

5.2. Tăng cường vai trò của Hiệp hội và cơ chế giám sát độc lập

Hiệp hội Thẩm định giá Việt Nam cần phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của mình trong việc đào tạo, cấp chứng chỉ, ban hành quy tắc đạo đức nghề nghiệp và giám sát hoạt động của các hội viên. Cần xây dựng một cơ chế giám sát sau thẩm định hiệu quả, có thể là thông qua các cuộc kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất bởi một cơ quan độc lập, nhằm đảm bảo các công ty thẩm định giá tuân thủ nghiêm ngặt các quy định và chuẩn mực, từ đó nâng cao chất lượng toàn ngành và củng cố niềm tin của xã hội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

01/10/2025
423 giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định giá tài sản trong hoạt động cấp tín dụng tại các công ty thẩm định giá ở việt nam luận văn thạc sĩ kinh tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG THẢM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG TẠI CÁC CÔNG TY THẢM ĐỊNH GIÁ 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC TỔ CHỨC THẢM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN 1. Khái niệm về tổ chức thẩm định giá tài sản về phương diện sản xuất, tổ chức thẩm định giá tài sản (TCTĐGTS) làmột tập thể người với người, trong đó có người lãnh đạo và người bị lãnh đạo, nhưng cùng chung mục đích là làm dịch vụ TĐGTS và được hưởng phí dịchvụ cho công việc đó. Về phương diện kinh tế vĩ mô, TCTĐGTS là một tế bào kinh tế của mộtquốc gia.

Do vậy sự lành mạnh tế bào này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự lành mạnh của nền kinh tế quốc gia. Tóm lại, TCTĐGTS được hiểu theo cách chung nhất là: Tổ chức tư vấntài chính được thành lập hợp pháp và được cơ quan quản lí Nhà Nước cấpgiấy phép thực hiện chức năng TĐG. Đặc điểm hoạt động của các tổ chức thẩm định giá tài sản Những đặc điểm của TCTĐGTS đã tác động không nhỏ tới hoạt động TĐGTS, chủ yếu thể hiện ở những đặc điểm sau: 1. Đặc điểm về tổ chức bộ máy: Hình thức pháp lý của TCTĐGTS có thể là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân.

Mỗi loại hìnhnày đều có lợi thế và bất lợi riêng, song đa số các nước quy định loại hình TCTĐGTS là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, vì thực tếhai loại hình tổ chức này có những lợi thế về quyền sở hữu, quản trị điềuhành, huy động vốn. 5 Hiện nay, mô hình phổ biến cho TCTĐGTS như sau: Cụ thể, đối với Công ty TNHH Thẩm định giá Vinacontrol (Vinacontrol PV) thì mô hình tổ chức được thể hiện như sau: Sơ đồ 1.2: Sơ đồ tổ chức Vinacontrol PV 6 1. Đặc điểm về sản phẩm - Sản phẩm của TCTĐGTS là sản phẩm vô hình. Đây là đặc điểm chínhphân biệt sản phẩm định giá với sản phẩm của các ngành sản xuất vật chấtkhác trong nền kinh tế quốc dân.

Chất lượng sản phẩm chỉ được đánh giátrong và sau khi sử dụng, thậm chí việc đánh giá chất lượng sản phẩm khókhăn ngay khi khách hàng đang sử dụng chúng. Do đặc tính vô hình của sản phẩm nên trong hoạt động TĐGTS phải dựa trên lòng tin. Các nhà cung cấpdịch vụ thường chú ý tới việc củng cố niềm tin đối với khách hàng bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao hình ảnh, uy tín, tạo điều kiện kháchhàng tham gia vào hoạt động tuyên truyền cho TCTĐGTS. Theo quy định hiện hành cũng như chuẩn mực và thông lệ quốc tế, sản phẩm định giá nói chung bao gồm: + Báo cáo TĐGTS: là văn bản do thẩm định viên lập để nêu rõ ý kiến chính thức của thẩm định viên về quá trình thực hiện TĐGTS, mức giá trị của doanh nghiệp mà khách hàng yêu cầu định giá.

+ Hồ sơ TĐGTS: là các tài liệu có liên quan đến công việc TĐG dothẩm định viên thu thập, lập ra, phân loại, sử dụng và lưu trữ trong quá trìnhthực hiện định giá. Tài liệu trong hồ sơ TĐGTS phải được thể hiện trên giấy, phim ảnh hay những vật mang tin khác theo quy định của pháp luật hiện hành. + Chứng thư TĐGTS: là văn bản do TCTĐGTS lập nhằm công bố cho khách hàng hoặc bên thứ ba về những nội dung cơ bản liên quan đến kết quảTĐGTS. Đối với sản phẩm định giá, giá trị không nằm ở số lượng trang giấy đượcin mà phụ thuộc vào hàm lượng chất xám để làm hài lòng khách hàng màthẩm định viên đã thể hiện ở trong đó.

Bởi vậy, các TCTĐGTS có quyền 7 đòi hỏi mức chi phí đủ để bù đắp hao phí lao động của thẩm định viên bỏ ra để có sản phẩm trên. - Sản phẩm định giá tài sản có tính chất đơn chiếc, riêng lẻ. Điều này làdo không có doanh nghiệp nào hoàn toàn giống nhau. Chính đặc điểm này đã tác động đến TCTĐGTS trong việc xác định mục tiêu, phương pháp, quytrình và tổ chức thực hiện xác định giá trị cho phù hợp với loại hình doanh nghiệp, ngành và lĩnh vực hoạt động chính của doanh nghiệp.

- Thời gian sử dụng hữu ích của sản phẩm định giá thường ngắn. Giá trịtài sản được xác định dựa trên cơ sở các thông tin thu thập được tính đến thời điểm TĐG. Giá trị tài sản được TĐG luôn phụ thuộc vào nhiều yếu tố bênngoài và những yếu tố đó luôn biến động không ngừng. Ví dụ như máy mócthiết bị phụ thuộc vào độ hao mòn của tài sản, chất lượng còn lại, giá cả thị trường, .Đối với bất động sản thì phụ thuộc vào tâm lý người tiêu dùng,mức tiêu dùng, mức ổn định của nền kinh tế quốc dân, chỉ số CPI,.

Bởi vậy, nếu thời gian sử dụng hữu ích của sản phẩm định giá càng dài thì các thôngtin mới đối với tài sản đó càng nhiều, và đến một lúc nào đó giá trị tài sản đã được công bố sẽ không còn phù hợp trong điều kiện mới nữa. - Giá cả của sản phẩm định giá luôn được xác định trước khi tiến hànhthực hiện vụ việc TĐG - còn gọi là phí dịch vụ TĐG, thông thường đượckhách hàng ứng trước số lượng tiền nhất định. Do vậy đòi hỏi các TCTĐGTS phải rất cẩn thận, tỉ mỉ để tính toán mức phí hợp lý mà khác hàng có thể chấp nhận được và đồng thời có được lợi nhuận sau khi trừ các chi phí một cáchthỏa đáng tùy vào mức độ phức tạp của hợp đồng định giá với khách hàng. - Đặc thù sản phẩm định giá sau khi chuyển giao cho khách hàng khôngthể sửa chữa hoặc bảo hành.

Nếu sản phẩm có vấn đề thường các TCTĐGTS phải tiến hành làm lại hoặc bồi thường cho khách hàng. Do đó, 8 cần phải cómột lượng phí dự phòng rủi ro nhất định để hình thành quỹ dự phòng rủi ronghề nghiệp trong hoạt động TĐGTS. Đặc điểm hoạt động kinh doanh - Do hệ thống khách hàng của các TCTĐGTS riêng lẻ, dàn trải ở nhiềuđịa điểm khác nhau nên nhân lực của TCTĐGTS và công cụ lao động phải di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Đồng thời các TCTĐGTS thường thực hiện TĐGTS cho nhiều khách hàng trong cùng một thời điểm; Do đó việc quản lý, hạch toán chi tiết chi phí trực tiếp và gián tiếp liên quan đến từng hợp đồng TĐG phải được thống nhất để đảm bảo tính trung thực và hợp lý của chi phíthực hiện hợp đồng.

Ngoài ra, do tính chất đồng thời thực hiện nhiều hợp đồng ở các địa điểm khác, các TCTĐGTS phải đảm bảo tránh gây lãng phí cả về thời gian và nhân lực. Như vậy, hiệu quả kinh tế cũng như chất lượng dịch vụ phụ thuộc rất lớn vào việc quy trình thực hiện của các TCTĐGTS như thế nào. - Quá trình TĐGTS của TCTĐGTS đòi hỏi tỉ mỉ, chính xác với sự cẩn trọng nhất và đặc biệt không được phạm một sai lầm nào có ảnh hưởng quan trọng tới kết quả TĐG. Các TCTĐGTS không nên có dấu hiệu vô tâm, hoặccẩu thả, chỉ cần một loạt những sai sót nhỏ, xét riêng lẻ, có thể không làmthay đổi nhiều đến kết quả TĐG, nhưng tập hợp lại sẽ có thể khiến đối tượngsử dụng kết quả bị lầm lẫn.

- Chu kỳ sản xuất (thời gian thực hiện hợp đồng TĐG) thường ngắn,tính theo tuần hoặc tháng tùy quy mô và mức độ phức tạp của tài sản, khoảng thời gian này luôn được xác định chính xác với khách hàng ngay khi ký kếthợp đồng. Mà trong điều kiện về nhân lực định giá luôn hạn chế về số lượng,đòi hỏi các TCTĐGTS cần thực hiện công việc định giá khoa học có tổ chứcthì mới đảm bảo được yêu cầu về chất lượng công việc cũng như hạn chếnhững rủi ro trong quá trình TĐGTS. 9 - Quá trình cung cấp dịch vụ TĐGTS luôn đồng thời có sự tham gia của khách hàng và không có sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho như đối với hoạt động sản xuất kinh doanh khác. Sản phẩm được cung ứng trực tiếp cho ngườisử dụng khi và chỉ khi khác hàng có nhu cầu.

Đặc điểm về nhân sự và đội ngũ lãnh đạo Đây là lĩnh vực có nghiệp vụ phức tạp, có độ rủi ro cao, mức độ ảnhhưởng tới đời sống kinh tế xã hội lớn nên đòi hỏi nhân viên và lãnh đạo TCTĐGTS phải là người có trình độ nhất định, có tư cách đạo đức nghềnghiệp và có chứng chỉ hành nghề do cơ quan có thẩm quyền cấp. Bên cạnhđó, hoạt động TĐGTS liên quan đến từng mặt hàng, đặc điểm riêng biệt của từng loại tài sản, cho nên đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên gia am hiểu, tư vấn, công tác viên trong nhiều lĩnh vực đặc thù để đảm bảo chất lượng công việc. Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật Để thực hiện hoạt động TĐGTS, các TCTĐGTS không phải đầu tư nhiều cho nhu cầu về trang thiết bị, cơ sở vật chất quá lớn như các lĩnh vựcsản xuất kinh doanh. Nhưng đòi hỏi phải đầu tư lớn vào hệ thống thông tin,xây dựng phần mềm lưu trữ cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động TĐG đối với bấtkì tài sản lớn hay nhỏ, có mức độ phức tạp cao.

Những tài sản vô hình đó nếu được TCTĐGTS thường xuyên đầu tư, nâng cấp thì sẽ giúp cho hoạt động TĐGTS rất thuận lợi và đồng thời giá trị của tài sản đó mang lại sẽ lớn hơn rất nhiều lần so với chi phí đầu tư. Nguyên tắc hoạt động của các tổ chức thẩm định giá tài sản Nguyên tắc được hiểu một cách chung nhất là những điều cơ bản đượcđịnh ra bắt buộc tổ chức và cá nhân nhất thiết phải tuân theo. Nguyên 10 tắcđược hình thành dựa trên những cơ sở khách quan, tuân theo có ảnh hưởng tới quyền lợi, lợi ích của đối tượng sử dụng kết quả TĐG. Nguyên tắc về năng lực chuyên môn Năng lực chuyên môn phản ánh khả năng hoàn thành công việc TĐGvới độ tin cậy cao nhất.

Các nước đều ban hành quy định trách nhiệm về mặt chuyên môn trong khi thực hiện TĐGTS với những nội dung sau: - TCTĐGTS có trách nhiệm không ngừng nâng cao kiến thức chuyênmôn và kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn, trong môi trường pháp lý vàứng dụng các tiến độ kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu việc TĐGTS phải thực hiện định giá theo những kỹ thuật và tiêu chuẩn chuyên môn nhất định. - Có quy trình nghiệp vụ về TĐGTS phải phù hợp với các quy địnhcủa pháp luật. - Đáp ứng các tiêu chí về số lượng, chất lượng của đội ngũ nhân viênlàm việc trong lĩnh vực, ngành nghề mà tổ chức đang hoạt động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ