CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và phân loại nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nhân lực được hiểu là nguồn lực trong từng con người, bao gồm trí lực và thể lực. Trí lực thể hiện ở suy nghĩ, hiểu biết của con người đối với thế giới xung quanh, còn thể lực chính là sức khoẻ, khả năng làm việc bằng cơ bắp chân tay.
Như vậy, nhân lực phản ánh khả năng lao động của con người và là điều kiện cần thiết của quá trình lao động sản xuất. Nguồn nhân lực là một khái niệm đa dạng và có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Dưới đây là một số khái niệm phổ biến hay được nhắc đến: Theo Liên Hợp Quốc định nghĩa:“Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh (2007): giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân:“Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”.TS Phạm Thị Tuệ (2005) giáo trình Kinh tế phát triển I của trường đại học Thương Mại thì: “ Nguồn nhân lực của một quốc gia là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật,có khả năng tham gia lao động.TS Nguyễn Tiệp (2005) giáo trình Nguồn nhân lực của Đại học Lao động xã hội đưa ra khái niệm nguồn nhân lực "bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động". Nguồn nhân lực được nghiên cứu với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội .TS Nguyễn Ngọc Quân (2012) giáo trình Quản trị nhân lực: "Nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong một tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gốm có cả thể lực và trí lực" 7 Luan van Nguồn nhân lực là tổng hợp những năng lực, sức mạnh hiện có thực tế và dưới dạng tiềm năng của lực lượng người, mà trước hết, là lực lượng lao động đang và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Bao gồm những người có khả năng lao động, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại. Như vậy, có thể hiểu: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng lao động và chất lượng con người với tổng hóa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức, tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp : Nguồn nhân lực của tổ chức doanh nghiệp bao gồm tất cả các cá nhân tham gia bất cứ hoạt động nào với bất kì vai trò gì trong tổ chức doanh nghiệp. Nói cách khác nguồn nhân lực của doanh nghiệp bao gồm nguồn nhân lực của tất cả các thành viên mà doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng mang tính ổn định và lâu dài, kể cả những người trong và ngoài doanh nghiệp nhưng có tham gia vào các hoạt động hay giải quyết những vấn đề của doanh nghiệp trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định, sức mạnh nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là sức mạnh tổng hoà từng cá thể.
Tuy nhiên đây không phải là phép cộng thuần tuý mà là sức mạnh tổng hợp của nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực của con người là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế xã hội. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác (nguồn lực tài chính, vật chất, công nghệ) là ở chỗ trong quá trình vận động, nguồn nhân lực chịu tác động của yếu tố tự nhiên (sinh, tử) và yếu tố xã hội (việc làm, thất nghiệp). Do đó nguồn nhân lực là một khái niệm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.
Trong lĩnh vực kinh tế nói chung và trong sản xuất kinh doanh nói riêng, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người bao gồm trí lực và thể lực. Chất lượng của nguồn nhân lực của công ty Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO đưa ra khá niệm : Chất lượng là khả năng tập hợp của các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và của các bên có liên quan (ISO 9001:2008). Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) còn định nghĩa “Chất lượng là toàn bộ những tính năng và đặc điểm 8 Luan van của một sản phẩm hoặc một dịch vụ thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và tiềm ẩn” Còn theo GS.TS Bùi Văn Nhơn (2006) giáo trình Quản lý và phát triển nguồn nhân lực giải thích thì: “ Chất lượng nguồn nhân lực gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội”. Trong đó: ● Thể lực của nguồn nhân lực: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần ● Trí lực của nguồn nhân lực: trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động.
● Phẩm chất tâm lý xã hội: kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao. Chất lượng nguồn nhân lực không những chỉ là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế, mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tới cách không chỉ là một nguồn lực của sự phát triển, mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh“Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực” Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội (2007) "chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất" Tác giả sử dụng "xem xét trên các mặt" chứ không coi đó là các tiêu chí bắt buộc. Các tiêu chí đưa ra chủ yếu là một số tiêu chí định lượng như: trình độ, sức khỏe, năng lực.Thông qua các quan điểm trên, tác giả nhận định: Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là một trạng thái của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, biểu hiện qua mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành đó là: - Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện của từng cá nhân cụ thể. Thể lực có ý nghĩa quan trọng quyết định năng lực hoạt động của con người.
Phải có thể lực con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội. -Trí lực được xác định bởi tri thức chung về khoa học, trình độ kiến thức chuyên môn, kỹ năng kinh nghiệm làm việc và khả năng tư duy, sáng tạo của mỗi con người. -Đạo đức, phẩm chất là những đặc điểm quan trọng trong yếu tố xã hội của nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ những tình cảm, tập quán phong cách, thói quen, quan niệm, truyền thống, các hình thái tư tưởng, đạo đức và nghệ thuật., gắn liền với 9 Luan van truyền thống văn hóa. Trong luận văn này, chất lượng nguồn nhân lực là thuật ngữ thể hiện một tập hợp các đánh giá về thể lực, trí lực, tâm lực của người lao động trong doanh nghiệp.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Theo PGS.TS Nguyễn Tiệp (2005) giáo trình Nguồn nhân lực của trường Lao dộng- xã hội Hà Nội cho rằng: “Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực con người tri thức, phát triển kỹ năng và các phẩm chất lao động mới, thúc đẩy sáng tạo thành tựu khoa học mới, đảm bảo cho sự vận động tích cực các ngành nghề, lĩnh vực toàn xã hội” ” Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là gia tăng giá trị con người, cả giá trị vật chất, tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng làm việc làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất cao hơn đáp ững nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là nâng cao kỹ năng xử lý công việc, năng suất làm việc, thái độ làm việc của nhân lực đang làm việc tại doanh nghiệp. Chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, tâm lực. Nó thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tới cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt,vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội.
Chất lượng nguồn nhân lực gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội” Đứng trên cách tiếp cận vi mô (doanh nghiệp) thì chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thông qua các tiêu thức: Thể lực, trí lực, tâm lực (phẩm chất đạo đức) 1. Phân loại nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Việc phân loại nguồn nhân lực trong doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc quy hoạch lao động, phục vụ trực tiếp cho việc tính toán, lập dự toán cho việc tính toán chi phí lao động trực tiếp, gián tiếp. Có nhiều tiêu chuẩn phân loại có mục đích, ý nghĩa và yêu cầu quản lý khác nhau: - Theo dạng sản phẩm của lao động: nguồn nhân lực sản xuất vật chất (sản phẩm dưới dạng giá trị), nguồn nhân lực tạo ra không tạo ra của cải vật chất (giá trị tinh thần). -Theo vị trí của nguồn nhân lực trong quá trình SX gồm: nguồn lao động trực tiếp sản xuất và nguồn lao động gián tiếp: 10 Luan van +Lao động trực tiếp: Gồm những người trực tiếp tiến hành hoạt động SXKD tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc, dịch vụ nhất định.
+Lao động gián tiếp: Gồm những người chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp. -Theo tính chất sử dụng các chức năng lao động có nguồn nhân lực hoạt động lao động trí óc và lao động chân tay. Lao động trí óc là hoạt động thực hiện công việc chủ yếu bằng khả năng suy nghĩ, tính toán, sáng tạo.