CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu trong nước Hiện nay, Việt Nam đã gia nhập vào nhóm các quốc gia đang phát triển và phấn đấu đến năm 2045 sẽ gia nhập vào khối các quốc gia phát triển. Tuy nhiên, phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam vẫn là vấn đề cần được quan tâm đặc biệt, do khoảng cách giữa đào tạo và áp dụng thực tiễn vẫn còn khá lớn.
Đây là yếu tố quyết định đến sự thành công của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh nói về nguồn nhân lực và tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong quá trình phát triển, nhiều tác giả trong nước đã đưa ra các quan điểm và lý luận qua các công trình nghiên cứu như sau: Đoàn Văn Khái (2005) trong tác phẩm “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” đã tóm lược quá trình công nghiệp hóa trên thế giới; nội dung, bản chất, tính tất yếu và đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay và đưa ra nhận định nguồn lực con người là yếu tố quyết định đưa đến thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây là tài liệu có ý nghĩa tham khảo trong việc nâng cao chất lượng nguồn lực con người. Bên cạnh đó, tài liệu đã đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm khai thác và phát triển hiệu quả nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam [1].
Tác giả Phạm Thành Nghị (2009) trong tác phẩm “Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã đưa ra các lý luận chung về vốn con người, phát triển NNL… cùng các nhận thức mới về cách thức quản lý NNL, đó là trình bày kinh nghiệm phát triển NNL và quản lý NNL của các quốc gia châu Á và các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi. Tài liệu còn trình bày các nhân tố tác động đến NNL trong giai đoạn mới, đồng thời đề xuất áp dụng những mô hình quản lý nguồn nhân lực phù hợp, các giải pháp phát triển NNL phù hợp hơn trong giai đoạn CMCN lần thứ tư hiện nay [2]. Với tác phẩm “Con người và phát triển con người” (Hồ Sĩ Quý, 2007) đã đưa ra những lý luận cơ bản về con người và phát triển con người; các khái niệm, vai trò chức năng của NNL; tài liệu cũng xác định phương hướng, giải pháp xây dựng phát triển NNL đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH trong giai đoạn mới, giai đoạn hội nhập sâu với kinh tế thế giới [3]. Tác phẩm “Quản trị nguồn nhân lực” của tác giả Trần Kim Dung trong đã trình bày một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về NNL, như khái niệm, tiêu chí, phân loại, những yếu tố chi phối đến NNL; trình bày vấn đề giáo dục đào tạo NNL, quản lý, bố trí, sử dụng, trọng dụng, các chính sách, cơ chế đối với NNL đất nước.
Cũng trong giáo trình này, tác giả đề xuất một số phương hướng, giải pháp cho phát triển NNL ở Việt Nam trong giai đoạn mới, đặc biệt là trong thời kỳ CMCN lần thứ tư [4]. 1 Thư viện ĐH Thăng Long Nhìn chung, nghiên cứu của các tác giả trên đã cung cấp cái nhìn sâu rộng về vai trò của nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam, phân tích các yếu tố như phẩm chất, đào tạo và quản lý, đồng thời đề xuất giải pháp để cải thiện và phát triển nguồn nhân lực. Các nghiên cứu nước ngoài Nhìn lại lịch sử nghiên cứu trong lĩnh vực này, vấn đề phát triển NNL trở nên phổ biến và giữ vai trò đặc biệt sau khi lý thuyết tăng trưởng và lý thuyết vốn con người được ủng hộ bởi Schultz (1961) và Becker (1964) mà cụ thể là, các ý kiến khi bàn về phát triển NNL đều thống nhất và cho rằng: “Không có quốc gia nào vững mạnh khi không có NNL vững mạnh. NNL là tài sản lớn nhất, là thước đo hiệu quả sản xuất của một nền kinh tế, là một trong những yếu tố quyết định cạnh tranh quốc gia.
Nguồn tài sản trí tuệ này không những giữ vững hiệu quả cho hoạt động hiện tại mà còn sinh lợi cho tương lai” (Schultz, 1961; & Becker, 1964) [5]. Các ấn phẩm hàng năm về chủ đề NNL của tổ chức quốc tế như Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), với những báo cáo đầy đủ về tình hình phát triển NNL, cập nhật đầy đủ chỉ số HDI (chỉ số phát triển con người) ở các quốc gia đã cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển NNL, đó chính là: (i) giáo dục, đào tạo; (ii) việc làm và sự giải phóng con người (iii) sức khỏe và dinh dưỡng; (iv) môi trường; và kết luận rằng giáo dục, đào tạo luôn là nhân tố hàng đầu trong quá trình phát triển NNL. Bên cạnh đó, các tổ chức quốc tế khác như: Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng rất quan tâm nghiên cứu và đưa ra các báo cáo cụ thể liên quan đến phát triển NNL trên toàn cầu. Ngoài ra, Ngân hàng Thế giới (World Bank) cũng đã tiến hành khảo sát về tác động của NNL đến phát triển KTXH ở các quốc gia trên toàn thế giới, bên cạnh đó các ấn phẩm tiêu biểu như: “Meeting human resources needs (Đáp ứng các nhu cầu về nguồn nhân lực)” hay “Human resources for health policies: A critical component in health policies (Nguồn nhân lực cho chính sách về sức khỏe: Một nhân tố thiết yếu trong các chính sách về sức khỏe)” của tác giả Gilles Dussault… đều phân tích vai trò của NNL với phát triển KTXH theo các khía cạnh khác nhau [5].
Nhìn nhận từ quan điểm quốc tế, các nghiên cứu và văn kiện học thuật đã hệ thống hóa lý thuyết về sự phát triển của nguồn nhân lực. Từ đó, rút ra bài học từ thực tiễn để đưa ra kết luận quan trọng, nhằm tối ưu hóa và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, đồng thời hiện thực hóa mục tiêu của các tổ chức. Khoảng trống nghiên cứu Thông qua việc đọc các nghiên cứu liên quan đến đề tài cả trong và ngoài biên giới, có thể nhận thấy rằng tác động của nguồn nhân lực đối với quá trình phát triển doanh nghiệp không còn là một chủ đề mới. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trên 2 chủ đề này, tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, đồng thời sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu và mô hình khác nhau.
Nhìn chung, các nghiên cứu thường đánh giá chất lượng nguồn nhân lực dựa trên ba yếu tố chính: trí lực, tâm lực, thể lực. Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực, bao gồm môi trường nội bộ như mục tiêu của doanh nghiệp và môi trường ngoại vi như yếu tố kinh tế, quá trình tuyển dụng, thu nhập và phúc lợi. Những kết quả từ các nghiên cứu trên cung cấp tư duy hữu ích cho các quản lý nhân sự trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, hạn chế chủ yếu của các nghiên cứu thực tế là chúng thường dựa trên một lượng quan sát hạn chế và được thu thập trong một hoặc vài khu vực địa lý cụ thể và trong một khoảng thời gian nhất định.
Do đó, chúng chỉ mang giá trị tham khảo tốt nhất cho những doanh nghiệp tham gia nghiên cứu và chỉ tại thời điểm nghiên cứu. Trong quá trình tham gia vào việc tìm hiểu các nghiên cứu, nhận thấy rằng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung vào thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Vận tải và Thương mại Đường sắt. Sau thời gian thực tập tại Phòng nhân sự pháp chế, em quyết định chọn đề tài này làm nội dung cho khóa luận tốt nghiệp của mình. 3 Thư viện ĐH Thăng Long CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 2. Một số vấn đề cơ bản về chất lượng NNL 2. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, do đó có nhiều khái niệm khác nhau: Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế, xã hội trong một cộng đồng”, với định nghĩa là nguồn nhân lực được hiểu khá rộng bao gồm những cá nhân có đủ điều kiện nhưng không tham gia lao động [6]. Cũng theo tác giả Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh năm 2008 thì: Nguồn nhân lực được xem xét nghiên cứu theo số lượng và chất lượng.
Số lượng nguồn nhân lực thể hiện quy mô nguồn nhân lực và tốc độ tăng trường nguồn nhân lực hàng năm. Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua các tiêu thức: sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn/ lành nghề,… [7] Theo quan điểm của GS. Lê Hữu Tầng trong chương trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước KX – 07 thì “nguồn nhân lực” được hiểu là: “số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực phẩm chất, thái độ, phong cách làm việc” [8]. Phạm Minh Hạc: “NNL là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH” [9].
Từ những khái niệm trên, có thể rút ra được khái niệm tổng quát về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay một xã hội, tức là tất cả các thành viên của tổ chức vận dụng sức lực, kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức của mình. Trong mỗi doanh nghiệp, NNL là nguồn lực quan trọng và không thể thiếu, quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp.