Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất khẩu lao động (XKLĐ) đóng vai trò là một bộ phận kinh tế đối ngoại quan trọng, vừa giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, vừa mang lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước. Bước vào thế kỷ 21, trước sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia xuất khẩu lao động truyền thống trong khu vực như Thái Lan, Philippines, Indonesia, vấn đề chất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu của Việt Nam trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của thị trường này.

Mặc dù thể lực của lao động Việt Nam đã có sự cải thiện so với đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 về chiều cao, cân nặng và độ tuổi, song vẫn còn khoảng cách so với nhiều nước trong khu vực, ảnh hưởng trực tiếp đến việc tham gia vào các ngành nghề nặng nhọc như xây dựng, vận tải biển, thuyền viên đánh bắt hải sản. Về trí lực, người lao động Việt Nam có ưu thế cần cù, thông minh, khéo léo và tiếp thu nhanh, nhưng bộc lộ nhiều điểm yếu về trình độ tay nghề chuyên môn, kỷ luật lao động công nghiệp và đặc biệt là rào cản ngoại ngữ cũng như sự hiểu biết về pháp luật, phong tục tập quán nước sở tại.

Trước yêu cầu mở rộng địa bàn xuất khẩu theo hướng tập trung, ổn định và đa dạng hóa ngành nghề cung ứng sang các thị trường trọng điểm, tác giả Nguyễn Văn Sơn (Lớp Kinh tế phát triển 43A, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội) đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: “Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực Châu Á” dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Thị Hoa và quá trình nghiên cứu thực tế tại Vụ Lao động - Văn xã (Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của chuyên đề được xác định rõ:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng lao động xuất khẩu, các tiêu chí đánh giá và quy trình bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực cung ứng ra nước ngoài.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động và chất lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam tại khu vực Châu Á giai đoạn 1992 - 2007; nhận diện các điểm tích cực, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi.
  3. Đề xuất phương hướng, mục tiêu và các nhóm giải pháp chủ yếu cùng hệ thống kiến nghị đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu sang khu vực Châu Á trong những năm tiếp theo.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam, trọng tâm là việc tuyển chọn, đào tạo và cung ứng lao động có chất lượng đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào thị trường lao động khu vực Châu Á (với các địa bàn tiếp nhận tiêu biểu như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Lào...); dữ liệu và thực tiễn hoạt động được khảo sát chủ yếu trong giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2007; hoàn thành vào tháng 04 năm 2008.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Chuyên đề xây dựng khung phân tích lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành kinh tế lao động, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và kinh nghiệm điều hành quản lý di cư lao động quốc tế.

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Xuất khẩu lao động (Export of Labour): Được định nghĩa là hoạt động dịch vụ kinh tế đối ngoại đưa người lao động từ nước sở tại đi làm việc tại nước có nhu cầu thuê mướn lao động theo các hợp đồng cung ứng hoặc thỏa thuận hợp tác.
  • Lao động xuất khẩu (Labour export): Bản thân người lao động có độ tuổi, sức khỏe, kỹ năng đáp ứng yêu cầu của nước tiếp nhận, đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng hoặc các hình thức khác.
  • Chất lượng lao động xuất khẩu: Là sự tổng hòa giữa năng lực kinh tế, trình độ văn hóa, đạo đức, tư tưởng, thể lực và kỹ năng lao động nghề nghiệp.

Tác giả xác lập 5 nhóm tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng lao động xuất khẩu:

  1. Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật: Bậc thợ, thâm niên nghề nghiệp, khả năng tiếp thu công nghệ.
  2. Trình độ ngoại ngữ: Khả năng giao tiếp thành thạo bằng ngôn ngữ của quốc gia tiếp nhận.
  3. Hiểu biết văn hóa, pháp luật và tập quán: Khả năng hòa nhập cộng đồng và tuân thủ kỷ luật sở tại.
  4. Tình trạng sức khỏe và thể lực: Tiêu chuẩn chiều cao, cân nặng, sức bền và độ thích ứng đặc thù theo ngành nghề.
  5. Phẩm chất đạo đức và ý thức kỷ luật: Tác phong công nghiệp, tinh thần trách nhiệm cộng đồng và sự trung thực trong thực hiện hợp đồng.

Cơ sở pháp lý nền tảng

Tác giả căn cứ vào hệ thống chủ trương và văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam:

  • Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 22/09/1998 của Bộ Chính trị về xuất khẩu lao động và chuyên gia.
  • Nghị định số 370/HĐBT ngày 09/11/1991 (và 1992) của Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy chế đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
  • Bộ luật Lao động nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 23/06/1995.
  • Nghị định số 07/CP ngày 20/01/1996 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về XKLĐ.
  • Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/09/1999 (và văn bản sửa đổi thay thế) quy định việc người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
  • Nghị định số 81/2003/NĐ-CP của Chính phủ.
  • Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) và lần thứ IX (2001).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Chuyên đề kết hợp các phương pháp nghiên cứu học thuật truyền thống:

  • Phương pháp duy vật biện chứng: Phân tích các mối quan hệ tác động qua lại giữa cơ chế quản lý nhà nước, thị trường tiếp nhận, doanh nghiệp dịch vụ và bản thân người lao động.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đánh giá các dữ liệu thứ cấp, văn bản chính sách và thực trạng cung ứng nhân lực.
  • Phương pháp thống kê toán: Xử lý các chuỗi số liệu về quy mô lao động, số lượng doanh nghiệp cấp phép và tỷ lệ vi phạm hợp đồng qua các thời kỳ.
  • Phương pháp chuyên gia, điều tra khảo nghiệm tổng kết thực tiễn: Khảo sát các báo cáo chuyên đề và thông tin quản lý thực tế từ Vụ Lao động - Văn xã (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cùng Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam

Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận cốt lõi, quy trình triển khai và những nhân tố tác động đến chất lượng lao động xuất khẩu, đồng thời đúc kết các bài học kinh nghiệm từ các quốc gia trong khu vực Châu Á.

Tác giả chỉ ra sự chuyển biến trong mô hình XKLĐ: từ giai đoạn đầu (1986 - 1992) do Nhà nước trực tiếp ký hiệp định chính phủ và tổ chức đưa đi, sang giai đoạn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khi các doanh nghiệp tự chủ tìm kiếm thị trường, đàm phán hợp đồng, còn Nhà nước giữ vai trò kiến tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ và giám sát. Quy trình đảm bảo chất lượng phải được thực hiện khép kín: xây dựng chuẩn mực tuyển chọn $\rightarrow$ công nghệ tuyển chọn công khai $\rightarrow$ đào tạo bổ túc nghề, ngoại ngữ, giáo dục định hướng (khung chương trình 2 - 3 tháng, định mức 120 tiết/tháng với học phí tối đa 500.000 đồng/tháng/người) $\rightarrow$ khám sức khỏe $\rightarrow$ quản lý tại nước tiếp nhận $\rightarrow$ thanh lý hợp đồng và tái xuất.

Bên cạnh đó, chương 1 phân tích 4 nhân tố chi phối chất lượng XKLĐ gồm: thị trường tiếp nhận (sự cạnh tranh gay gắt ở phân khúc việc làm 3D - Dangerous, Dirty, Difficult), quản lý nhà nước, doanh nghiệp dịch vụ và bản thân người lao động. Tác giả dẫn chứng số liệu của Tổ chức Đào tạo Quốc tế Nhật Bản (JITCO) cho thấy tỷ lệ tu nghiệp sinh Việt Nam bỏ trốn tại Nhật Bản đã gia tăng từ 3,05% (năm 1996) lên tới 24,73% (năm 2000), gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín thương hiệu lao động quốc gia.

Quốc gia Chính sách tiêu biểu Kết quả & Dữ liệu ghi nhận Bài học cho Việt Nam
Thái Lan Chủ trương đưa lao động ra nước ngoài từ 1975; năm 2002 có hơn 200 tổ chức tuyển chọn đăng ký, bắt buộc đóng tiền thế chân 1 - 5 triệu Baht chống tiêu cực. Giai đoạn 1991 - 2001 đưa 1.569.000 lao động; mở các khóa đào tạo hàng năm cho hơn 120.000 người; thị trường chính gồm Singapore, Đài Loan, Brunei... Đa dạng hóa tổ chức tuyển chọn gắn với ký quỹ ràng buộc trách nhiệm; đào tạo nghề chuẩn hóa trước khi xuất cảnh; giảm tỷ lệ bỏ việc.
Philippines Tận dụng lợi thế phổ cập tiếng Anh; thành lập các bộ phận chuyên trách bảo vệ lao động trực thuộc Đại sứ quán tại nước sở tại. Thu nhập kiều hối đạt từ 6 đến 7 tỷ USD/năm; cung ứng đa dạng từ lao động dịch vụ (giúp việc gia đình, khán hộ công) đến chuyên gia trình độ cao (họa sĩ, máy tính, kiến trúc sư) tại Trung Đông (Ả Rập Xê Út, Kuwait, UAE...). Khai thác lợi thế ngoại ngữ; chủ động lập cơ quan đại diện bảo vệ quyền lợi người lao động tại chỗ; chính sách ưu đãi vận động tái xuất.
Trung Quốc Áp dụng chiến lược "xuất khẩu sinh viên" để tiếp thu khoa học công nghệ; cấp học bổng kết hợp chế độ đãi ngộ sau tốt nghiệp và chế tài phạt/bồi thường nếu cố tình trốn ở lại. Năm 2002 có 380.000 sinh viên học tập tại 108 quốc gia/vùng lãnh thổ (theo UNESCO), tăng trưởng 25.000 sinh viên/năm; thị trường lớn tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Đông, Mỹ. Nâng cao hàm lượng chất xám trong xuất khẩu nhân lực; thu hút chuyên gia trở về phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Chương 2: Đánh giá về chất lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam ở khu vực Châu Á

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng hoạt động XKLĐ giai đoạn 1992 - 2007. Giai đoạn 1992 - 1994 là giai đoạn chuyển tiếp đầy khó khăn khi doanh nghiệp mới rời khỏi bao cấp, chỉ đưa được khoảng 5.000 lao động. Từ sau năm 1995, mạng lưới doanh nghiệp XKLĐ phát triển nhanh chóng:

Năm 2000: Bộ LĐ-TB&XH cấp phép cho 79 doanh nghiệp

Năm 2001: Mở rộng cấp phép lên 159 doanh nghiệp

Chương 2 đánh giá toàn diện các mặt đạt được và tồn tại:

  • Thành tựu: Tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, mang lại nguồn ngoại tệ lớn bổ sung vào Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm (theo định hướng dành tối thiểu 50% ngoại tệ thu được); nâng cao tay nghề và tiếp thu công nghệ sản xuất hiện đại tại các thị trường tiếp nhận như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia.
  • Hạn chế: Tỷ lệ lao động phổ thông chưa qua đào tạo chiếm đa số; khả năng ngoại ngữ yếu kém dẫn đến bất đồng ngôn ngữ và tranh chấp hợp đồng; cơ chế quản lý sơ hở khi doanh nghiệp chỉ báo cáo Cục Quản lý lao động ngoài nước mà không báo cáo Bộ chủ quản; xuất hiện tình trạng khoán trắng cho chi nhánh, tuyển dụng qua "cò mồi", trung gian bất hợp pháp; thiếu chế tài nghiêm khắc đối với hiện tượng lao động tự ý phá hợp đồng ra ngoài sống lưu vong.

Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực Châu Á

Dựa trên định hướng của Đảng và các đề án của Bộ LĐ-TB&XH, chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và 5 nhóm kiến nghị chuyên biệt:

  1. Về phía Nhà nước:
    • Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, ban hành cơ chế tái đầu tư cho doanh nghiệp XKLĐ từ nguồn thuế doanh thu nộp trong 5 năm; hỗ trợ từ Quỹ đầu tư phát triển để mở rộng thị trường mới và tham gia đấu thầu các gói thầu lớn quốc tế.
    • Hướng dẫn khung chi phí môi giới phù hợp với thông lệ quốc tế.
    • Thực hiện quy chế “một cửa” giải quyết hồ sơ xuất cảnh không quá 5 ngày làm việc.
    • Cấp hộ chiếu có ký hiệu riêng cho người đi XKLĐ; triển khai quy trình khám sức khỏe nghiêm ngặt, gắn trách nhiệm vật chất với cơ sở y tế kết luận sai.
  2. Về phía Doanh nghiệp:
    • Chủ động nghiên cứu thị trường, trực tiếp tuyển chọn minh bạch, kiên quyết loại bỏ trung gian môi giới lừa đảo.
    • Ưu tiên tuyển chọn đối tượng con em gia đình chính sách, người nghèo đủ điều kiện.
    • Chuẩn hóa quy trình đào tạo nghề, bồi dưỡng ngoại ngữ và giáo dục định hướng thực chất trước khi xuất cảnh; cử cán bộ đại diện đủ năng lực quản lý tại nước sở tại.
  3. Về phía Người lao động:
    • Nâng cao ý thức tự giác, chủ động kiểm tra sức khỏe trước khi dự tuyển; tích cực học tập ngoại ngữ, rèn luyện tác phong kỷ luật công nghiệp; tuân thủ nghiêm túc hợp đồng lao động và pháp luật nước bạn.
  4. Về công tác tổ chức đào tạo:
    • Khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp XKLĐ và hệ thống các trường dạy nghề; đầu tư xây dựng các cơ sở đào tạo thuyền viên vận tải và đánh bắt hải sản đạt tiêu chuẩn quốc tế tại cả 3 miền Bắc - Trung - Nam; chú trọng dạy ngoại ngữ ngay từ bậc giáo dục phổ thông.
  5. Về vấn đề hậu xuất khẩu lao động:
    • Thành lập Quỹ bổ trợ tài chính (từ nguồn đóng góp của người lao động và tiền phạt vi phạm) để xử lý rủi ro, tai nạn hoặc hỗ trợ người bị đưa về nước không do lỗi cá nhân.
    • Xây dựng chính sách ưu đãi tiếp nhận, giới thiệu việc làm trong nước và khuyến khích tái xuất khẩu lao động đối với những cá nhân hoàn thành tốt hợp đồng.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa lý luận chuyên ngành: Xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu bao gồm 5 tiêu chí (học vấn/tay nghề, ngoại ngữ, hiểu biết văn hóa - pháp luật, thể lực, phẩm chất đạo đức), làm rõ mối quan hệ giữa công tác giáo dục định hướng và hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động di cư lao động.
  • Cung cấp bức tranh thực trạng có căn cứ: Phân tích chi tiết quy mô và cơ cấu mạng lưới 159 doanh nghiệp XKLĐ được cấp phép năm 2001 (gồm 81 DNNN Trung ương, 62 DNNN địa phương, 13 DN đoàn thể và 3 DN tư nhân thí điểm), cùng các số liệu lịch sử về quá trình chuyển dịch từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường giai đoạn 1992 - 2007.
  • Đề xuất giải pháp và kiến nghị có tính khả thi: Đưa ra mô hình quản lý khép kín từ chính sách tín dụng cho vay ưu đãi người nghèo, cải cách thủ tục hành chính "một cửa" $\le 5$ ngày, cấp hộ chiếu ký hiệu riêng, thành lập Quỹ bổ trợ tài chính xử lý rủi ro đến việc quy hoạch các cơ sở đào tạo thuyền viên đạt chuẩn quốc tế tại 3 miền Bắc - Trung - Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Do nguồn lực, thời gian thực tập và phạm vi dữ liệu tiếp cận tại thời điểm năm 2008 còn hạn chế, các phân tích về chất lượng lao động chủ yếu dừng lại ở các nhận định định tính và thống kê mô tả sơ cấp; chưa thực hiện được các khảo sát định lượng chuyên sâu với cỡ mẫu lớn đối với từng nhóm ngành nghề cụ thể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi đánh giá số liệu giai đoạn sau năm 2007 khi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng chính thức đi vào thực tiễn.
    • Phân tích định lượng chi tiết cơ cấu chi phí - lợi ích và hiệu quả của các chương trình tái xuất khẩu lao động đối với từng thị trường trọng điểm ngoài Châu Á.

Giá trị tham khảo

Chuyên đề tốt nghiệp là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên: Chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản trị nguồn nhân lực, Kinh tế lao động và Quan hệ quốc tế cần tìm hiểu khung lý luận, quy trình đào tạo giáo dục định hướng và phương pháp phân tích chính sách XKLĐ.
  • Cán bộ quản lý và doanh nghiệp dịch vụ XKLĐ: Tham khảo các quy trình tuyển chọn trực tiếp, mô hình phối hợp giữa doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề, cũng như các bài học kinh nghiệm quốc tế (Thái Lan, Philippines, Trung Quốc) trong việc quản lý và bảo vệ quyền lợi người lao động.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ tu nghiệp sinh Việt Nam bỏ trốn tại Nhật Bản giai đoạn 1996 - 2000 được văn bản ghi nhận như thế nào?

Theo thống kê của Tổ chức Đào tạo Quốc tế Nhật Bản (JITCO) được trích dẫn trong chuyên đề, tỷ lệ tu nghiệp sinh Việt Nam bỏ trốn tại Nhật Bản năm 1996 chỉ chiếm 3,05%, nhưng đến năm 2000 con số này đã tăng vọt lên mức 24,73%.

2. Mạng lưới 159 doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh XKLĐ năm 2001 gồm những thành phần nào?

Cơ cấu 159 doanh nghiệp năm 2001 gồm có: 81 Doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Trung ương, 62 Doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc địa phương, 13 Doanh nghiệp thuộc các đoàn thể (Liên minh HTX: 4, Đoàn Thanh niên SĐCN: 5, VCCI: 2, Công đoàn: 1, Mặt trận Tổ quốc: 1) và 3 Doanh nghiệp tư nhân được thí điểm (Đỉnh Vàng - Hải Phòng, Quốc Dân - Hà Nội, Thuận Thảo - TP.HCM).

3. Quy định về khung học phí đào tạo giáo dục định hướng cho người lao động xuất khẩu là bao nhiêu?

Theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nêu trong văn bản, mức thu học phí đào tạo được tính theo tháng với thời lượng 120 tiết/tháng và mức thu tối đa là 500.000 đồng/tháng/người học. Khoản lệ phí kiểm tra sát hạch nếu thuê cơ sở bên ngoài do doanh nghiệp chi trả, không được thu của người lao động.

4. Tác giả đề xuất thời hạn tối đa xử lý thủ tục hành chính xuất cảnh theo cơ chế "một cửa" là bao lâu?

Chuyên đề kiến nghị cải cách thủ tục hồ sơ xuất cảnh cho người lao động theo nguyên tắc “một cửa”, với thời hạn giải quyết không kéo dài quá 5 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận đầy đủ hồ sơ của người lao động.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Văn Sơn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng chất lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực Châu Á giai đoạn 1992 - 2007. Công trình chỉ rõ những nút thắt căn bản về ngoại ngữ, kỹ năng nghề và ý thức kỷ luật của người lao động, đồng thời phân tích những sơ hở trong công tác quản lý của Nhà nước và doanh nghiệp dịch vụ. Hệ thống 5 nhóm giải pháp và kiến nghị được đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần cung cấp luận cứ thực tiễn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và uy tín của nguồn nhân lực Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế.