Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu từ một quốc gia nông nghiệp sang phát triển công nghiệp, nguồn lực con người được xác định là nhân tố giữ vai trò quyết định. Sự cạnh tranh kinh tế giữa các khu vực và các tổ chức phụ thuộc lớn vào chất lượng nguồn nhân lực — yếu tố duy nhất không thể bị sao chép nhanh chóng như công nghệ hay tài chính. Do đó, việc nâng cao chất lượng lao động, đặc biệt là lao động khu vực nông nghiệp nông thôn, là đòi hỏi cấp thiết nhằm đáp ứng các yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển bền vững.

Xã Bình Xa là một xã miền núi thuộc phía Nam huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, cách trung tâm huyện lỵ 17 km. Địa bàn xã có các tuyến giao thông trọng điểm chạy qua như Quốc lộ 2, Quốc lộ 190 và hệ thống đường liên huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương. Năm 2013, toàn xã có 9.784 nhân khẩu hoạt động kinh tế với hơn 60% làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Trong giai đoạn thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, xã Bình Xa có sự chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế với sự xuất hiện và hoạt động của các nhà máy công nghiệp (Nhà máy mía đường, Nhà máy sản xuất đá công nghiệp). Việc thu hồi đất nông nghiệp phục vụ xây dựng hạ tầng và công nghiệp đã khiến một bộ phận lớn lao động nông nghiệp thiếu việc làm, giảm thu nhập, đồng thời bộc lộ rõ tình trạng thiếu hụt nguồn lao động có trình độ kỹ thuật và tay nghề.

Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Trần Duy Cường đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Kinh tế nông nghiệp tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (năm 2014) với đề tài: "Giải pháp nâng cao chất lượng lao động tại xã Bình Xa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang".

Hệ thống mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng chất lượng lao động tại xã Bình Xa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng lao động của xã trong giai đoạn tiếp theo.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá thực trạng lực lượng lao động theo độ tuổi, giới tính và các hoạt động lao động tại xã Bình Xa.
    • Đánh giá thực trạng chất lượng lao động theo ngành nghề và trình độ chuyên môn, văn hóa tại địa phương.
    • Phân tích các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến chất lượng lao động tại xã Bình Xa.
    • Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động tại địa bàn nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng người lao động tại xã Bình Xa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Trong đó, chủ thể nghiên cứu là người lao động cùng các chỉ tiêu phản ánh chất lượng lao động; khách thể nghiên cứu là các cơ quan, đơn vị sử dụng lao động và hệ thống chính sách lao động – việc làm tại địa phương.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Bình Xa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (khảo sát chuyên sâu tại 3 thôn đại diện: Tân Bình 1, Đồng Cỏm, Chợ Bợ).
  • Phạm vi thời gian: Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2011 – 2013; nguồn số liệu sơ cấp điều tra thực địa được thực hiện trong năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp giữa lý luận kinh tế học lao động và các phương pháp nghiên cứu định lượng, thống kê thực địa:

1. Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng:

  • Lý luận về lao động và chất lượng lao động: Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò sáng tạo của lao động đối với sự phát triển xã hội. Chất lượng lao động được tiếp cận theo khung lý thuyết của TSKH. Lương Việt Hải, là sự kết hợp của 3 yếu tố cốt lõi: Thể lực (sức khỏe sinh học, độ dẻo dai, chỉ số nhân trắc học), Trí lực (trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ) và Phẩm chất đạo đức, lối sống (ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, văn hóa lao động).
  • Khái niệm và mô hình việc làm: Tiếp cận định nghĩa việc làm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Bộ luật Lao động Việt Nam năm 1994 (mọi hoạt động tạo ra thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm). Khóa luận vận dụng mô hình tương quan việc làm: $VL = C/L$ (với $VL$ là việc làm, $C$ là tư liệu sản xuất, $L$ là lượng lao động).
  • Cơ sở pháp lý và chính sách: Luật Giáo dục (2005), Luật Dạy nghề (2006), Chương trình mục tiêu quốc gia giải quyết việc làm (Chương trình 120), Chương trình 327, Chương trình 773 và định hướng nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo cả nước lên 50% vào năm 2020.
  • Tổng quan kinh nghiệm thực tiễn: Phân tích kinh nghiệm đào tạo và phân bổ nguồn lực lao động của Trung Quốc; kinh nghiệm đầu tư ngân sách giáo dục – đào tạo đạt mức 2,65% – 3% GDP của Singapore.

2. Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu:

  • Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: Chọn 3 thôn đại diện cho các ngành nghề sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại – dịch vụ trên địa bàn xã Bình Xa gồm: Thôn Tân Bình 1, Thôn Đồng Cỏm và Thôn Chợ Bợ.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo tổng kết kinh tế – xã hội của UBND xã Bình Xa, Niên giám thống kê huyện Hàm Yên (2011 – 2013), số liệu Trạm Khí tượng tỉnh Tuyên Quang (2013).
    • Dữ liệu sơ cấp: Thực hiện khảo sát điều tra chọn mẫu với dung lượng mẫu $n = 60$ người lao động (phân bổ đều 20 mẫu/thôn, mỗi thôn chiếm 33,33% tổng mẫu) kết hợp phỏng vấn cán bộ quản lý địa phương thông qua bảng hỏi thiết kế sẵn.
  • Phương pháp phân tích thông tin:
    • Phương pháp thống kê mô tả: Tính toán các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tốc độ tăng trưởng liên hoàn và bình quân giai đoạn 2011 – 2013.
    • Phương pháp phân tổ thống kê: Phân chia lực lượng lao động theo các tiêu thức số lượng (độ tuổi: 15–24, 25–34, 35–44, 45–54, 55–60; trình độ học vấn) và tiêu thức thuộc tính (giới tính, ngành nghề sản xuất, trình độ chuyên môn kỹ thuật).
    • Phương pháp ma trận SWOT: Nhận diện điểm mạnh (S), điểm yếu (W), cơ hội (O) và thách thức (T) tác động đến công tác phát triển và nâng cao chất lượng lao động tại xã.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Toàn bộ dữ liệu thứ cấp và sơ cấp được tổng hợp, xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương này hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về nguồn nhân lực, phân loại việc làm (theo thời gian: ổn định/tạm thời, đủ/không đủ thời gian; theo tính chất: việc làm chính/phụ) và vai trò của đào tạo nghề đối với năng suất xã hội. Tác giả phân tích sâu 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng lao động gồm: (1) Giới tính; (2) Sức khỏe và độ tuổi; (3) Trình độ văn hóa; (4) Trình độ chuyên môn kỹ thuật; (5) Ngành nghề và môi trường làm việc.

Bên cạnh đó, chương 1 phân tích bức tranh thực tiễn về chính sách việc làm và đào tạo nghề tại Việt Nam (mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 26% năm 2010 lên 50% năm 2020), đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc và Singapore về việc ưu tiên ngân sách nhà nước cho công tác đào tạo nhân lực gắn với nhu cầu của thị trường.

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả cụ thể hóa đối tượng, phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu. Nội dung chương trình bày chi tiết quy trình chọn mẫu điều tra sơ cấp ($n = 60$) tại 3 thôn Tân Bình 1, Đồng Cỏm, Chợ Bợ.

Chương 2 cũng thiết lập hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu gồm 3 nhóm chính:

  • Nhóm chỉ tiêu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên đất đai và dân số địa bàn.
  • Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu đối tượng nghiên cứu (độ tuổi, giới tính, tình trạng việc làm).
  • Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng và hiệu quả đào tạo lao động (trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, số lượng lớp đào tạo nghề, tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 tập trung phân tích thực trạng kinh tế – xã hội và chất lượng lao động tại xã Bình Xa giai đoạn 2011 – 2013 với các phát hiện chính:

1. Đặc điểm tự nhiên, đất đai và kinh tế – xã hội:

  • Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 3.360,85 ha, địa hình đồi núi dốc từ 15° đến 35°, đất chủ yếu là đất thịt nhẹ và đất đỏ.
  • Cơ cấu sử dụng đất có sự biến động lớn: Diện tích đất nông nghiệp giảm từ 120,01 ha (năm 2011) xuống còn 86,24 ha (năm 2013), trong đó đất sản xuất nông nghiệp giảm từ 79,51 ha xuống 49,13 ha. Ngược lại, đất phi nông nghiệp tăng từ 213,20 ha (chiếm 63,29%) lên 250,61 ha (chiếm 74,40%) nhằm phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng và mặt bằng công nghiệp.
  • Kinh tế xã duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 8,7%/năm, tổng thu nhập đạt trên 89,8 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế gồm: Nông – lâm – thủy sản chiếm 75%; Công nghiệp – xây dựng chiếm 10%; Thương mại – dịch vụ chiếm 15%. Thu nhập bình quân đạt 1.000.000 đồng/người/tháng; lương thực bình quân đạt 469,5 kg/người/năm.
Chỉ tiêu đất đai Năm 2011 (ha) Cơ cấu (%) Năm 2012 (ha) Cơ cấu (%) Năm 2013 (ha) Cơ cấu (%)
Tổng diện tích đất tự nhiên 336,85 100,00 336,85 100,00 336,85 100,00
1. Đất nông nghiệp 120,01 35,63 98,08 29,12 86,24 25,60
- Đất sản xuất nông nghiệp 79,51 23,60 60,97 18,10 49,13 14,59
- Đất lâm nghiệp có rừng 57,60 17,10 81,26 24,12 88,90 26,39
- Đất NTTS và đất NN khác 35,11 10,42 31,72 9,42 31,72 9,42
2. Đất phi nông nghiệp 213,20 63,29 238,77 70,88 250,61 74,40
- Đất ở 154,11 45,75 177,77 52,77 185,41 55,04
- Đất chuyên dùng và đất khác 30,10 8,94 32,01 9,50 36,01 10,69
3. Đất chưa sử dụng 2,36 100,00 2,36 100,00 2,36 100,00

2. Thực trạng lực lượng lao động phân theo độ tuổi và giới tính:

  • Lực lượng lao động (LLLĐ) của xã có xu hướng tăng đều qua các năm. Năm 2013, LLLĐ tập trung cao nhất ở độ tuổi 25 – 34 tuổi (1.829 người, chiếm 27,11%), tiếp theo là nhóm 35 – 44 tuổi (1.742 người, chiếm 25,83%) và nhóm 15 – 24 tuổi (1.330 người, chiếm 19,68%).
  • Về cơ cấu giới tính năm 2013, lao động nam có 3.912 người (chiếm 57,94%), lao động nữ có 2.840 người (chiếm 42,06%).
Nhóm tuổi và giới tính Năm 2011 (người) Cơ cấu (%) Năm 2012 (người) Cơ cấu (%) Năm 2013 (người) Cơ cấu (%)
15 – 24 tuổi 1.149 18,72 1.215 19,13 1.330 19,68
25 – 34 tuổi 1.637 26,71 1.712 26,91 1.829 27,11
35 – 44 tuổi 1.553 25,28 1.629 25,58 1.742 25,83
45 – 54 tuổi 956 15,52 999 15,71 1.141 15,92
55 – 60 tuổi 841 13,77 809 12,67 710 11,46
Phân theo giới tính:
- Nam 3.600 58,67 3.653 57,41 3.912 57,94
- Nữ 2.536 41,33 2.711 42,59 2.840 42,06

3. Đánh giá chất lượng lao động qua phân tích ma trận SWOT:

  • Điểm mạnh (S): Nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ dân số trẻ cao (nhóm 15–34 tuổi chiếm gần 47%), người lao động có đức tính cần cù, thích nghi tốt với môi trường sản xuất.
  • Điểm yếu (W): Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề còn thấp; trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp; tác phong lao động mang nặng tính tự do của sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ; thiếu việc làm sau thu hồi đất.
  • Cơ hội (O): Hạ tầng giao thông thuận lợi; sự hình thành các cơ sở chế biến công nghiệp (mía đường, đá xây dựng) trên địa bàn; sự hỗ trợ từ các chính sách đào tạo nghề và xây dựng nông thôn mới.
  • Thách thức (T): Hiện tượng lao động trẻ sau khi được đào tạo ở các thành phố lớn không quay về địa phương làm việc; nguy cơ thất nghiệp gia tăng do diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp; áp lực cạnh tranh gay gắt của thị trường lao động.

Chương 4: Các giải pháp nâng cao chất lượng lao động tại xã Bình Xa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang

Trên cơ sở phân tích thực trạng và ma trận SWOT, tác giả xác lập phương hướng và hệ thống giải pháp:

  • Đẩy mạnh công tác phân luồng học sinh sau THCS và THPT, khuyến khích học nghề phù hợp với nhu cầu phát triển của địa phương.
  • Đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo của các lớp dạy nghề ngắn hạn; gắn kết chương trình đào tạo nghề với nhu cầu tuyển dụng thực tế của Nhà máy mía đường, Nhà máy sản xuất đá công nghiệp và các hợp tác xã nông nghiệp.
  • Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho trạm y tế, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng nhằm cải thiện thể lực và sức bền của người lao động.
  • Mở rộng hoạt động xuất khẩu lao động và liên kết giới thiệu việc làm ngoài tỉnh để giải quyết tình trạng dôi dư lao động nông nghiệp sau chuyển đổi đất đai.
  • Xây dựng chính sách ưu đãi, hỗ trợ vốn vay và tạo môi trường làm việc thuận lợi để thu hút lao động có trình độ cao đẳng, đại học quay trở lại phục vụ quê hương.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và đưa ra các kết quả định lượng cụ thể phản ánh thực trạng phát triển kinh tế và nguồn nhân lực tại xã Bình Xa:

  • Phản ánh chính xác xu hướng chuyển dịch đất đai giai đoạn 2011 – 2013: Diện tích đất nông nghiệp giảm 33,77 ha (từ 120,01 ha xuống 86,24 ha), đất phi nông nghiệp tăng 37,41 ha (từ 213,20 ha lên 250,61 ha).
  • Lực lượng lao động có cơ cấu trẻ với 72,62% tổng số lao động nằm trong độ tuổi từ 15 đến 44 tuổi (năm 2013). Tỷ lệ lao động nam chiếm 57,94% và nữ chiếm 42,06%.
  • Xác định rõ tốc độ tăng trưởng kinh tế của xã đạt 8,7%/năm, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.000.000 đồng/người/tháng, tỷ lệ hộ nghèo và suy dinh dưỡng trẻ em giảm qua từng năm (tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 6,0% năm 2013).

Giải pháp đề xuất của tác giả:

  • Đề xuất mô hình liên kết đào tạo nghề 3 bên: Chính quyền xã – Cơ sở đào tạo – Doanh nghiệp/Nhà máy đóng trên địa bàn (nhà máy mía đường, nhà máy đá).
  • Kiến nghị hoàn thiện chính sách tín dụng ưu đãi giải quyết việc làm (nguồn vốn Chương trình 120) và đẩy mạnh công tác tư vấn xuất khẩu lao động có thời hạn ở nước ngoài.
  • Đề xuất các biện pháp nâng cao thể lực và ý thức kỷ luật lao động thông qua y tế cơ sở và các phong trào văn hóa, thể thao thôn bản.

Đóng góp của đề tài:

  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về cơ cấu dân số, lao động và sử dụng đất đai tại xã Bình Xa trong giai đoạn đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới.
  • Xây dựng hệ thống luận cứ thực tiễn giúp chính quyền địa phương xã Bình Xa và huyện Hàm Yên có căn cứ hoạch định chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người dân vùng chuyển đổi đất nông nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu thực địa giới hạn tại một đơn vị hành chính cấp xã (xã Bình Xa, huyện Hàm Yên) với quy mô mẫu khảo sát sơ cấp còn khiêm tốn ($n = 60$ người lao động tại 3 thôn); số liệu thứ cấp chỉ tập trung thu thập trong giai đoạn 2011 – 2013.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát so sánh liên xã trên địa bàn huyện Hàm Yên; nghiên cứu sâu hơn về hiệu quả kinh tế và mức độ chuyển biến thu nhập của các hộ gia đình sau khi người lao động tham gia các chương trình đào tạo nghề ngắn hạn và xuất khẩu lao động.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích đối với:

  • Sinh viên, học viên các ngành Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế phát triển, Quản lý lao động – việc làm và Phát triển nông thôn khi thực hiện các nghiên cứu thực địa cấp xã/huyện.
  • Phần phương pháp phân tổ thống kê, hệ thống bảng biểu phân tích cơ cấu lao động và vận dụng ma trận SWOT (Chương 2 và Chương 3) có giá trị mẫu mực cho việc thiết kế báo cáo thực tập tốt nghiệp.
  • Cán bộ quản lý lao động, thương binh và xã hội, cán bộ phụ trách chương trình xây dựng nông thôn mới tại các huyện miền núi tham khảo trong công tác xây dựng kế hoạch đào tạo nghề nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu lực lượng lao động theo độ tuổi tại xã Bình Xa năm 2013 được ghi nhận như thế nào?
Theo số liệu thống kê năm 2013, lực lượng lao động của xã gồm 6.752 người thuộc các nhóm tuổi: nhóm 15–24 tuổi có 1.330 người (19,68%); nhóm 25–34 tuổi có 1.829 người (27,11% – chiếm tỷ lệ cao nhất); nhóm 35–44 tuổi có 1.742 người (25,83%); nhóm 45–54 tuổi có 1.141 người (15,92%); nhóm 55–60 tuổi có 710 người (11,46%).

2. Diện tích đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp tại xã Bình Xa biến động ra sao trong giai đoạn 2011 – 2013?
Trong giai đoạn 2011 – 2013, diện tích đất nông nghiệp giảm liên tục từ 120,01 ha (năm 2011) xuống 98,08 ha (năm 2012) và còn 86,24 ha (năm 2013), tương ứng giảm tỷ trọng từ 35,63% xuống 25,60%. Ngược lại, đất phi nông nghiệp tăng từ 213,20 ha (63,29%) lên 238,77 ha (70,88%) và đạt 250,61 ha (74,40%) vào năm 2013 do nhu cầu mở rộng đất ở và đất công trình chuyên dùng.

3. Khảo sát sơ cấp của đề tài được tiến hành với quy mô mẫu và địa bàn cụ thể nào?
Tác giả đã thực hiện khảo sát sơ cấp trên quy mô $n = 60$ người lao động, chia đều cho 3 thôn đại diện thuộc xã Bình Xa gồm: Thôn Tân Bình 1 (20 mẫu, chiếm 33,33%), Thôn Đồng Cỏm (20 mẫu, chiếm 33,33%) và Thôn Chợ Bợ (20 mẫu, chiếm 33,33%), kết hợp phỏng vấn cán bộ quản lý địa phương qua bảng hỏi.

4. Cơ cấu kinh tế và mức thu nhập bình quân đầu người tại xã Bình Xa theo số liệu trong khóa luận là bao nhiêu?
Xã Bình Xa đạt tốc độ tăng trưởng giá trị kinh tế bình quân 8,7%/năm, tổng thu nhập đạt trên 89,8 tỷ đồng. Cơ cấu ngành gồm: Nông – lâm – thủy sản chiếm 75%, Công nghiệp – xây dựng chiếm 10%, Thương mại – dịch vụ chiếm 15%. Mức thu nhập bình quân đạt 1.000.000 đồng/người/tháng và sản lượng lương thực bình quân đạt 469,5 kg/người/năm.

5. Ma trận SWOT trong khóa luận đã chỉ ra những thách thức (Threats) chính nào đối với chất lượng lao động xã Bình Xa?
Hai thách thức lớn nhất được tác giả chỉ ra là: (1) Lực lượng lao động trẻ sau khi đi học đại học, cao đẳng tại các thành phố lớn có xu hướng ở lại đô thị, không quay về địa phương làm việc dẫn đến thất thoát nguồn nhân lực chất lượng; (2) Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do quy hoạch phát triển khiến tình trạng lao động phổ thông thiếu việc làm gia tăng, tạo áp lực lớn lên an sinh xã hội địa phương.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Duy Cường đã phân tích chi tiết thực trạng lực lượng lao động và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế – đất đai tại xã Bình Xa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011 – 2013. Công trình đã làm rõ những mâu thuẫn giữa nguồn cung lao động dồi dào, trẻ tuổi nhưng thiếu kỹ năng với nhu cầu lao động kỹ thuật ngày càng cao từ các cơ sở công nghiệp và chương trình nông thôn mới. Hệ thống giải pháp đề xuất tập trung vào liên kết đào tạo nghề theo nhu cầu doanh nghiệp, chuyển dịch cơ cấu việc làm và nâng cao thể lực cộng đồng mang tính thực tiễn cao đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.