Tổng quan nghiên cứu
Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nguồn nhân lực đóng vai trò là tài sản cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh của các cơ sở sản xuất. Tại Cụm công nghiệp đa nghề Đông Thọ thuộc huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, quá trình thu hút đầu tư giai đoạn 2013 - 2015 đã ghi nhận sự phát triển nhanh chóng với quy mô diện tích 56,4 ha do Công ty Cổ phần Đầu tư Địa ốc Sông Hồng làm chủ đầu tư hạ tầng với tổng vốn đăng ký 597 tỷ đồng. Tính đến năm 2015, cụm công nghiệp đã thu hút 33 doanh nghiệp đi vào hoạt động chính thức và tạo việc làm cho 4.520 lao động, tăng gấp 2,86 lần so với quy mô 1.580 lao động của năm 2013.
Tuy nhiên, sự tăng trưởng nhanh về số lượng chưa đi đôi với chất lượng. Nguồn nhân lực tại đây bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: tỷ lệ lao động có tay nghề đáp ứng yêu cầu kỹ thuật chỉ chiếm khoảng 30%, trong khi lực lượng lao động trẻ dưới 30 tuổi chiếm tới gần 73% nhưng phần lớn chưa qua đào tạo nghề chuyên sâu. Hạn chế về trình độ chuyên môn và tác phong công nghiệp đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, khiến 15% doanh nghiệp đạt hiệu quả thấp, 25% doanh nghiệp hoạt động không có lãi, 10% thua lỗ và 10% đứng trước nguy cơ giải thể, phá sản theo số liệu của Ban Quản lý các Khu công nghiệp huyện Yên Phong.
Đề tài tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng chất lượng lao động, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao thể lực, trí lực và tâm lực cho người lao động tại Cụm công nghiệp đa nghề Đông Thọ. Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2013 - 2015 và số liệu sơ cấp thu thập từ tháng 10/2015 đến tháng 10/2016. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên trên 60%, giảm tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả xuống dưới 5%, đồng thời thúc đẩy giá trị sản xuất công nghiệp của huyện Yên Phong vốn đã đạt hơn 6,4 nghìn tỷ đồng tiếp tục tăng trưởng bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng học thuyết giá trị lao động của Adam Smith khi khẳng định lao động là nguồn gốc căn bản tạo ra của cải vật chất và giá trị thặng dư cho xã hội, kết hợp cùng quan điểm của triết học Mác về quá trình lao động như sự tương tác có mục đích giữa con người và tự nhiên thông qua tư liệu sản xuất.
Về phương diện quản trị, luận văn vận dụng khung lý thuyết đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của Bùi Văn Nhơn (năm 2006) kết hợp hệ thống tiêu chí quản lý nhân sự của Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Văn Diềm (năm 2012). Theo đó, chất lượng lao động được cấu thành từ ba trụ cột cơ bản:
- Thể lực: Tình trạng sức khỏe, chiều cao, cân nặng, sức bền và khả năng duy trì cường độ làm việc liên tục từ 8 đến 10 giờ mỗi ngày theo ca sản xuất.
- Trí lực: Trình độ học vấn văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật từ công nhân kỹ thuật bậc 3 trở lên, khả năng tư duy phân tích, mức độ tiếp thu công nghệ mới và kỹ năng thực hành nghề nghiệp.
- Tâm lực và phẩm chất tâm lý xã hội: Ý thức chấp hành kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, tinh thần hợp tác làm việc nhóm, thái độ gắn bó và khả năng tự trau dồi nâng cao trình độ.
Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp bài học kinh nghiệm quốc tế và trong nước như: phương thức đào tạo tại chỗ OJT (On-the-Job Training) và đào tạo ngoài công việc Off-JT của Nhật Bản; chiến lược phát triển nguồn nhân lực nhân tài số 1 của Tập đoàn Samsung tại Hàn Quốc; mô hình quản trị phúc lợi toàn diện gắn kết người lao động của Tập đoàn DABACO Bắc Ninh với doanh thu vượt 5.538 tỷ đồng.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng quy trình thu thập dữ liệu kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu: Tổng thể nghiên cứu gồm 33 doanh nghiệp đang hoạt động trong Cụm công nghiệp đa nghề Đông Thọ. Tác giả tiến hành khảo sát chọn mẫu đạt tỷ lệ 50% số doanh nghiệp có quy mô từ 30 lao động trở lên. Mẫu điều tra sơ cấp gồm 80 phiếu khảo sát phát trực tiếp cho người lao động theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo các ngành sản xuất cơ khí, linh kiện điện tử, chế biến gỗ và hóa chất. Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 5 giám đốc doanh nghiệp và 15 cán bộ phòng nhân sự trong tổng số 103 cán bộ quản lý nhân sự tại địa bàn.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2013 - 2015 được thu thập từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, Chi cục Thống kê huyện Yên Phong, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Yên Phong và Ban Quản lý các Khu công nghiệp. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp từ tháng 10/2015 đến tháng 10/2016.
- Phương pháp phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích cơ cấu, phương pháp so sánh định gốc và liên hoàn trên phần mềm chuyên dụng Microsoft Excel. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này nhằm lượng hóa chính xác các chỉ tiêu thể lực, trình độ học vấn, tay nghề, mức thu nhập bình quân và đánh giá mức độ ảnh hưởng của chính sách đào tạo, phúc lợi đến năng suất lao động một cách trực quan và khoa học.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, quy mô lao động tăng trưởng vượt bậc nhưng phân bổ không đồng đều giữa các loại hình doanh nghiệp. Tổng số lao động làm việc tại Cụm công nghiệp đa nghề Đông Thọ tăng mạnh từ 1.580 người năm 2013 lên 4.100 người năm 2014 và đạt 4.520 người năm 2015, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 169,13%/năm. Khối công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm tỷ trọng áp đảo với 88,6% tổng lực lượng lao động (tương ứng 4.005 người năm 2015), trong khi công ty cổ phần chỉ chiếm 8,4% (380 người) và các xí nghiệp chế biến chiếm 3,0% (135 người). Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ 30,3% trên tổng số 33 cơ sở sản xuất nhưng đóng vai trò chủ đạo trong thu hút công nhân kỹ thuật.
Thứ hai, cơ cấu tay nghề còn thấp dù nguồn nhân lực có ưu thế lớn về độ tuổi trẻ. Thống kê cho thấy người lao động dưới 30 tuổi chiếm tới gần 73% tổng số công nhân, mang lại nguồn thể lực dồi dào với sức khỏe loại 1 và loại 2 chiếm trên 85%. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động có tay nghề đáp ứng được yêu cầu công nghệ chỉ chiếm khoảng 30%. Có tới 70% lao động là lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề bài bản trước khi tuyển dụng, buộc 100% doanh nghiệp phải tự tổ chức các khóa bồi dưỡng ngắn hạn để đáp ứng dây chuyền vận hành.
Thứ ba, năng lực của đội ngũ quản trị và chủ doanh nghiệp bộc lộ nhiều khoảng trống. Khảo sát thực tế chỉ ra hơn 50% chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa qua đào tạo chuyên môn sâu về quản trị kinh tế; khoảng 45% cán bộ quản lý cấp trung được đánh giá ở mức trung bình về năng lực phân tích chiến lược và kỹ năng xử lý tình huống phát sinh trong môi trường công nghiệp hiện đại.
Thứ tư, thu nhập bình quân và điều kiện an sinh xã hội chưa tạo được lực đẩy giữ chân lao động gắn bó dài hạn. Mức thu nhập bình quân của lao động trực tiếp trong cụm công nghiệp chỉ đạt từ 4,2 đến 5,5 triệu đồng/tháng. Trong khi đó, trên 60% doanh nghiệp chưa có chính sách hỗ trợ nhà ở cho công nhân ngoại tỉnh, các thiết chế văn hóa, thể thao và nhà trẻ cho con em người lao động gần như chưa được đầu tư xây dựng.
Thảo luận kết quả
Khi các chỉ tiêu nghiên cứu được mô tả qua bảng ma trận cơ cấu lao động theo bậc thợ hoặc biểu đồ tương quan giữa chi phí đào tạo với năng suất, sự mất cân đối giữa yêu cầu công nghệ ngày càng cao và chất lượng nguồn nhân lực thực tế hiện rõ. Trong 33 doanh nghiệp hoạt động năm 2015, các ngành sản xuất linh kiện điện tử tăng 122,47%, phụ tùng xe máy tăng 158,12%, khí đốt và hóa chất tăng 173,20%. Các ngành công nghệ cao này đòi hỏi sự chuẩn xác tuyệt đối, song nguồn cung lao động tại Yên Phong chủ yếu chuyển dịch từ nông nghiệp nên tác phong công nghiệp còn hạn chế.
So sánh với mô hình OJT của các doanh nghiệp Nhật Bản và quy trình đào tạo của Tập đoàn Samsung tại Yên Phong, các đơn vị tại Cụm công nghiệp Đông Thọ vẫn xem công tác đào tạo là chi phí phát sinh hơn là một khoản đầu tư sinh lời. Chi phí đầu tư cho đào tạo bồi dưỡng của các doanh nghiệp trong cụm công nghiệp qua các năm chỉ chiếm chưa đầy 1,5% tổng quỹ lương hàng năm.
Hệ quả trực tiếp là 25% doanh nghiệp chỉ đạt mức hòa vốn, 10% thua lỗ và 10% đứng bên bờ vực phá sản. Nguyên nhân sâu xa xuất phát từ ba yếu tố chính: công tác tuyển dụng mang tính bị động và chắp vá; thiếu cơ chế liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng với các trường nghề; chính sách đãi ngộ tiền lương, tiền thưởng và bảo hiểm chưa đủ sức cạnh tranh để thu hút lao động kỹ thuật cao từ các địa phương lân cận.
Đề xuất và khuyến nghị
- Hoàn thiện cơ chế chính sách và thành lập quỹ hỗ trợ đào tạo nghề cấp huyện: Ủy ban nhân dân huyện Yên Phong chủ trì phối hợp cùng Ban Quản lý các Khu công nghiệp thành lập Quỹ hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực Cụm công nghiệp Đông Thọ trước quý II/2017. Trích từ 1% đến 2% nguồn thu ngân sách địa phương từ cụm công nghiệp để tài trợ cho các khóa đào tạo ngắn hạn, phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo tại cụm lên 65% vào năm 2020.
- Chuẩn hóa quy trình tuyển dụng và ứng dụng mô hình đào tạo tại chỗ OJT: Các doanh nghiệp cần xây dựng bộ tiêu chuẩn chức danh công việc rõ ràng, chủ động ký kết thỏa thuận hợp tác cung ứng nhân lực với các trường cao đẳng, trung cấp nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Đồng thời, triển khai mô hình đào tạo tại chỗ kèm cặp 1-1 giữa thợ bậc cao và công nhân mới nhằm nâng 35% năng suất lao động trong vòng 6 tháng đầu làm việc.
- Cơ cấu lại thang bảng lương và nâng cao chất lượng chế độ đãi ngộ: Doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống trả lương linh hoạt gắn với năng suất và chất lượng sản phẩm, đặt mục tiêu nâng mức thu nhập bình quân của người lao động lên từ 7,0 đến 8,5 triệu đồng/tháng giai đoạn 2017 - 2019. Thực hiện đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đầy đủ 100% cho người lao động theo đúng quy định của Bộ luật Lao động.
- Đầu tư hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội và thiết chế văn hóa: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo Công ty Cổ phần Đầu tư Địa ốc Sông Hồng bố trí quỹ đất xây dựng khu nhà ở công nhân, nhà trẻ mẫu giáo và khu thể thao phức hợp hoàn thành trước năm 2018, giúp giảm tỷ lệ biến động và nhảy việc của lao động xuống dưới 5%/năm.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Yên Phong, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh, Ban Quản lý các Khu công nghiệp sử dụng luận văn làm căn cứ xây dựng đề án quy hoạch nguồn nhân lực công nghiệp và hoạch định các gói hỗ trợ an sinh xã hội bám sát thực tế đô thị hóa.
- Ban lãnh đạo và cán bộ nhân sự tại các doanh nghiệp trong cụm công nghiệp: Giám đốc điều hành, trưởng phòng nhân sự tại 33 doanh nghiệp ở Đông Thọ và các cụm công nghiệp tương tự tham khảo để thiết lập quy trình tuyển dụng chuẩn, áp dụng phương pháp đào tạo OJT và hoàn thiện chính sách tiền lương khích lệ năng suất.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giảng viên và học viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản trị nhân lực sử dụng luận văn làm tài liệu nghiên cứu thực chứng, tham khảo khung chỉ tiêu phân tích chất lượng lao động kết hợp giữa thể lực, trí lực và tâm lực cấp cơ sở.
- Các trường dạy nghề và trung tâm dịch vụ việc làm: Ban giám hiệu các trường trung cấp, cao đẳng nghề tại Bắc Ninh khai thác số liệu để nắm bắt chính xác cơ cấu nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp đa ngành, từ đó cải tiến chương trình đào tạo sát với nhu cầu thực tế của thị trường.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao chất lượng lao động tại Cụm công nghiệp đa nghề Đông Thọ còn thấp dù lực lượng lao động rất trẻ?
Mặc dù lao động dưới 30 tuổi chiếm gần 73%, nhưng có tới 70% là lao động phổ thông xuất thân từ khu vực nông nghiệp, chưa từng trải qua đào tạo kỹ thuật chính quy. Thiếu hụt kỹ năng vận hành máy móc hiện đại và thói quen làm việc tự do khiến năng suất chưa tương xứng với ưu thế thể lực trẻ.
-
Loại hình doanh nghiệp nào chiếm ưu thế vượt trội về quy mô lao động tại cụm công nghiệp?
Khối công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm tỷ trọng áp đảo với 88,6% tổng số lao động (đạt 4.005 người trên tổng số 4.520 người năm 2015), trong khi công ty cổ phần chiếm 8,4% và xí nghiệp chế biến chiếm 3,0%. Khối doanh nghiệp FDI chiếm 30,3% số lượng cơ sở sản xuất và dẫn đầu về nhu cầu lao động kỹ thuật cao.
-
Nghiên cứu sử dụng quy mô mẫu khảo sát như thế nào để đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy?
Tác giả khảo sát toàn diện 33 doanh nghiệp, chọn 50% số doanh nghiệp có từ 30 lao động trở lên, phát 80 phiếu điều tra trực tiếp người lao động theo phương pháp chọn mẫu phân tầng và phỏng vấn sâu 5 giám đốc cùng 15 cán bộ nhân sự trong tổng số 103 cán bộ quản lý nhân sự tại địa bàn.
-
Trình độ tay nghề của người lao động ảnh hưởng trực tiếp thế nào đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp?
Tỷ lệ lao động có tay nghề chỉ đạt 30% dẫn đến tỷ lệ sản phẩm lỗi tăng cao và lãng phí nguyên vật liệu. Số liệu năm 2015 cho thấy có tới 25% doanh nghiệp hòa vốn, 10% thua lỗ và 10% phải giải thể hoặc phá sản do chi phí vận hành tăng cao và chất lượng sản phẩm kém cạnh tranh.
-
Giải pháp nào được xem là đòn bẩy đột phá nhất để nâng cao chất lượng lao động trong ngắn hạn?
Giải pháp đột phá nhất là áp dụng mô hình đào tạo tại chỗ OJT của Nhật Bản kết hợp ký hợp đồng đào tạo theo đơn đặt hàng với các trường nghề tại Bắc Ninh, song song với việc thành lập Quỹ hỗ trợ đào tạo nghề cấp huyện trích từ 1% đến 2% nguồn thu ngân sách địa phương.
Kết luận
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại các cụm công nghiệp đa ngành cấp huyện.
- Phản ánh trung thực bức tranh thực trạng lao động tại 33 doanh nghiệp với 4.520 công nhân ở Cụm công nghiệp đa nghề Đông Thọ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Định lượng hóa các hạn chế về trình độ tay nghề khi có tới 70% lao động phổ thông chưa qua đào tạo và chỉ rõ nguyên nhân khiến 20% doanh nghiệp thua lỗ, phá sản.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao gắn liền với trách nhiệm cụ thể của chính quyền huyện, ban quản lý, doanh nghiệp và người lao động.
- Cung cấp mô hình tham chiếu thực tiễn phục vụ công tác quản lý nguồn nhân lực cho các cụm công nghiệp đang chuyển đổi cơ cấu tại vùng đồng bằng sông Hồng.
- Lộ trình tiếp theo: Các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng ban hành quy chế phối hợp đào tạo trong quý I/2017 và tổ chức kiểm toán chất lượng nhân sự định kỳ hàng năm giai đoạn 2017 - 2020.
- Lời kêu gọi hành động: Các nhà quản trị doanh nghiệp và cơ quan hoạch định chính sách hãy khẩn trương đầu tư đồng bộ cho đào tạo nghề và hạ tầng an sinh xã hội để biến nguồn nhân lực trẻ thành động lực phát triển kinh tế bền vững.