CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ MỚI 1.1 Tổng quan về dự án, dự án đầu tư xây dựng và quản lý dự án đầu tư xây dựng 1.1 Khái niệm về dự án và dự án đầu tư xây dựng 1.1 Khái niệm về dự án Trước hết Luận văn xin đề cập đến một số khái niệm tiêu biểu về dự án như sau: Theo ISO 9000: 2000 [8] thì dự án được định nghĩa là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiển soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, dự án được tiến hành để đạt được mục tiêu phù hợp với các yêu cầu qui định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực. Theo phương diện quản lý thì dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm mục đích tạo ra một sản phẩm hoặc một dịch vụ duy nhất. Khái niệm này nhấn mạnh hai đặc tính cơ bản là: (i) Nỗ lực tạm thời, nghĩa là mọi DAĐT đều xác định được điểm bắt đầu và kết thúc, điểm kết thúc của dự án là khi mục tiêu của dự án đã đạt được hoặc dự án bị loại bỏ; (ii) Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất, nghĩa là sản phẩm hoặc dịch vụ của dự án này phải khác biệt so vớí sản phẩm tương tự đã có hoặc sản phẩm của dự án khác. Dự án còn được hiểu là sử dụng các nguồn lực hữu hạn để thực hiện nhiều công việc khác nhau, nhưng chúng có liên quan với nhau và cùng hướng tới một mục tiêu chung nhằm đạt được các lợi ích cụ thể.
Như vậy dự án là giải pháp hứa hẹn một lợi ích cụ thể. Mục đích của dự án là làm ra tiền hoặc tiết kiệm tiền. Nguồn lực của dự án là nguồn vốn, thời gian, nhân lực, máy móc thiết bị, công cụ dụng cụ, vật tư vật liệu… Dự án là một nhóm các công việc được thực hiện theo một quy trình nhất định để đạt được mục tiêu đề ra, có thời điểm bắt đầu và kết thúc được ấn định trước và sử dụng tài nguyên có giới hạn. Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng, hay cải tạo những CTXD.
Một dự án nói chung 6 hay một dự án đầu tư xây dựng nói riêng bao gồm ba thành tố: quy mô, kinh phí và thời gian theo N.2 Chu trình dự án Chu trình dự án là các thời kỳ mà một dự án cần phải trải qua, bắt đầu từ thời điểm có ý định đầu tư cho đến thời điểm kết thúc dự án. Tất cả các dự án đều phải trải qua các giai đoạn giống nhau. Chu trình của một dự án (về phương diện thời gian) có thể được biểu diễn bằng đường cong hình chữ “S” như Hình 1.1 Chu trình hoạt động của dự án Khi dự án được hình thành (đã thực hiện được ý tưởng - Dự án đã được thông qua) - Cần nổ lực lớn để bắt đầu triển khai dự án: chọn cơ quan quản lý, tiến hành lập kế hoạch, xác định các nguồn lực ban đầu (chủ yếu là nguồn vốn thực hiện dự án). Khi vượt qua được giai đoạn này thì giai đoạn triển khai thực hiện dự án sẽ khá nhanh và suôn sẻ.
Khi gần đến giai đoạn kết thúc thì phần trăm hoàn thành dự án sẽ chậm lại. Nhiều dự án ở giai đoạn cuối thường bị kéo dài (phổ biến), nhưng cũng có dự án ở giai đoạn cuối kết thúc nhanh (rất ít).3 Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng Theo Luật Xây dựng [6] thì Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo CTXD nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, 7 Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng.2 Khái niệm về quản lý dự án 1.1 Khái niệm Theo Bùi Ngọc Toàn [4] thì QLDA xây dựng là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho CTXD hoàn thành đúng thời hạn; trong phạm vi ngân sách được duyệt; đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật, chất lượng; đảm bảo an toàn lao động, bảo vệ môi trường bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. QLDA còn được hiểu là ứng dụng các kiến thức, kỹ năng của con người vào các hoạt động dự án để đảm bảo rằng dự án đạt được các mục tiêu và yêu cầu đặt ra.
Theo khái niệm này thì QLDA phải đạt các mục tiêu đặt ra và đảm bảo đạt hiệu quả mong đợt. Theo một khía cạnh khác thì QLDA được hiểu là một quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các công việc và nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu đã định (đó là kỹ thuật, tài chính và thời gian).2 Ý nghĩa của quản lý dự án Công tác QLDA được thực hiện tốt nhằm tránh những sai sót trong khi thực hiện các CTXD lớn và có tính chất phức tạp. Việc QLDA tốt có thể giảm thiểu rủi ro, điều tiết các mục tiêu của dự án. Một số mục tiêu trong dự án có thể phân tích định lượng, nhưng một số mục tiêu khác lại không thể phân tích định lượng.
Trong quá trình thực hiện dự án, chúng ta thường chú trọng đến một số mục tiêu định lượng mà coi nhẹ những mục tiêu định tính. Khi chúng ta thực hiện tốt phương pháp QLDA trong quá trình thực hiện dự án mới có thể tiến hành điều tiết, phối hợp, khống chế giám sát các mục tiêu tổng thể của dự án một cách có hiệu quả. QLDA ngày càng trở nên quan trọng và có nghĩa trong đời sống kinh tế. Trong xã hội hiện đại, nếu không nắm vững phương pháp QLDA sẽ gây ra những tổn thất lớn.
Để 8 tránh được những tổn thất này và giành được những thành công trong việc QLDA thì trước khi thực hiện dự án chúng ta phải lên kế hoạch một cách tỉ mỉ, chu đáo.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dự án Nguồn tài trợ và chương trình: nguồn tài chính do nhà tài trợ và chủ dự án cung cấp, kết quả mong đợi và thời gian “hoàn” vốn. Ảnh hưởng bên ngoài như tác động về chính trị, KT-XH, pháp lý, môi trường. Thái độ: thể hiện tầm quan trọng của dự án và sự hỗ trợ của các bên liên quan. Xác định: dự án cần xác định rõ phải làm gì, phương pháp tiếp cận thiết kế dự án và chiến lược thực hiện.
Con người: sự quản lý và lãnh đạo. Hệ thống: kế hoạch, chế độ báo cáo và kiểm soát để đo lường tiến độ của dự án. Tổ chức: vai trò, trách nhiệm và quan hệ giữa các bên tham gia.4 Các mục tiêu và chủ thể trong quản lý dự án đầu tư xây dựng Các mục tiêu cơ bản của QLDA là hoàn thành các công việc của dự án đúng yêu cầu về an toàn, kỹ thuật, chi phí, tiến độ và chất lượng. Có thể biểu diễn mối quan hệ này theo công thức (1.1) Trong đó: C là chi phí; P là mức độ hoàn thành công việc (kết quả); T là yếu tố thời gian; S là phạm vi dự án.
Trong quá trình QLDA, các nhà quản lý mong muốn đạt được tốt nhất tất cả các mục tiêu đặt ra. Tuy nhiên, thực tế không đơn giản cho nên các nhà quản lý hi vọng đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa các mục tiêu của QLDA. Vì thế, làm tốt công tác quản lý là một việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Cùng với sự phát triển ngày càng cao, mục tiêu của QLDA cũng thay đổi theo chiều hướng gia tăng về lượng và thay đổi về chất.
9 Các mục tiêu và chủ thể trong QLDA đầu tư xây dựng được phát triển theo chiều hướng tích cực được thể hiện ở Hình 1.2 Các mục tiêu và chủ thể cơ bản Hình 1.3 Các mục tiêu và chủ thể trong QLDA đầu tư xây dựng hiện nay 1.3 Quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng 1.1 Khái niệm về quản lý chất lượng Chất lượng là kết quả của sự tác động hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố 10 này. Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng. Quản lý chất lượng đã được áp dụng trong tất cả các ngành công nghiệp, trong mọi lĩnh vực, trong tất cả các loại hình công ty, với tất cả công ty có quy mô lớn đến công ty có quy mô nhỏ.
Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng. Việc định hướng và kiểm soát về chất lượng thường bao gồm lập chính sách, mục tiêu, hoạch định, kiểm soát đảm bảo và cải tiến chất lượng. Đối với các dự án thì quản lý chất lượng dự án là quá trình quản lý có hệ thống việc thực hiện dự án nhằm đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về chất lượng mà khách hàng đặt ra. Nó bao hàm việc quy hoạch chất lượng, khống chế chất lượng và đảm bảo chất lượng 1.2 Quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình Theo quy định tại Khoản 1 Điều 45 của Luật Xây dựng thì nội dung QLDA đầu tư xây dựng công trình bao gồm: quản lý chất lượng, khối lượng, tiến độ, an toàn lao động và môi trường xây dựng.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Nghị định 12/2009/ NĐ-CP thì dự án đầu tư xây dựng công trình có thể gồm một hoặc nhiều loại công trình với một hoặc nhiều cấp công trình khác nhau. Trong khi đó CTXD là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật tư vật liệu, thiết bị lắp đặt vào công trình được liên kết định vị với đất được xây dựng theo thiết kế. Do vậy nội dung quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng sẽ rộng hơn rất nhiều so với quản lý chất lượng CTXD.