Chương 1: N h ữ n g vấn đ ê c ơ bản vê c h ấ t lư ợn g th ẩ m đ ịn h d ự án đầu tư tru n g và d à i h ạn c ủ a n g â n h à n g th ư ơ n g m ại. Chương 2: T h ự c trạ n g c h ấ t lư ợn g th ẩ m đ ịn h d ự án đ ầ u tư tru n g và d à i hạn tạ i N H N o & P T N T Q u ả n g N in h. Chương 3: G iả i p h á p n â n g cao c h ấ t lư ợn g th ẩ m đ ịn h d ự án đầu tư tru n g và d à i h ạn tạ i N H N o & P T N T Q u ả n g N inh. -3- CHƯƠNG1 NHỮNG VẤN ĐỂ C ơ BẢN VỂ CHẤT LƯỢNG THAM đ ịn h Dự ÁN ĐẦU T ư TRUNG VÀ DÀI HẠN 1.1 Tổng quan về dự án đầu tư và thẩm định dự án 1.1 D ự án đ ầ u tư: Bất kỳ một quốc gia nào nói chung hay một doanh nghiệp nói riêng đều hướng tới mục tiêu tăng trưởng và phát triển.
Để đạt được sự tăng trưởng trong sản xuất kinh doanh hay rộng hơn là sự phát triển kinh tế xã hội thì nhất thiết phải ĐT. Vậy hoạt động ĐT là gì? Nói đến ĐT người ta thường nghĩ ngay tới “h o ạ t đ ộ n g bỏ vốn hiện tạ i đ ể n h ằ m thu đư ợc lợ i n h u ậ n tro n g tư ơng la i”. Song nếu chỉ dừng lại như vậy thì chưa đủ bởi hoạt động ĐT luôn gắn với rủi ro. Rủi ro là một yếu tố quyết định nhà ĐT có bỏ vốn hay không và tuỳ theo từng mức rủi ro mà nhà đầu tư sẽ quyết định bỏ vốn bao nhiêu, bỏ như thế nào.
Đặc điểm cơ bản của ĐT: ĐT là hoạt động bỏ một lượng vốn, nguồn lực ban đầu trong một thời gian dài. ĐT luôn gắn với rủi ro, mạo hiểm. Cho nên, nhà đầu tư luôn phải dự tính trước điều này để có biện pháp phòng ngừa. Nhà đầu tư luôn phải cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích thu được trong tương lai, lợi ích nền kinh tế và cộng đồng.
Đầu tư gắn với mục tiêu, hiệu quả. Song với mỗi nhà đầu tư khác nhau lại theo đuổi các mục tiêu khác nhau. Đối với nhà đầu tư là doanh nghiệp thì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, Ngân hàng thương mại hướng tới mục tiêu an toàn và hiệu quả của đồng vốn cho vay; còn đối với một Quốc gia thì đó là hiệu quả kinh tế, xã hội. Mục tiêu ĐT được thể hiện dưới các kết quả tài chính, kinh tế và xã hội.
Mỗi nhà đầu tư khi theo đuổi mục tiêu nào sẽ cố gắng đạt được tối đa kết quả đó. Muốn tối đa hoá hiệu quả ĐT thì trước khi quyết định ĐT nhất thiết phải có DA ĐT. Trên thực tế, hoạt động ĐT được thể hiện tập trung qua việc thực hiện các DA đầu tư. Vậy DA ĐT là gì? - Về bản chất, DAĐT là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian xác định.
Là một tập họp những đề xuất về nhu cầu vốn, cách thức sử dụng vốn, kết quả tương ứng thu được trong một khoảng thời -4- gian xác định đối với hoạt động cụ thể để sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triến hoặc phục vụ đời sống. - Đặc trưng của DAĐT : có rất nhiều khái niệm về dự án đầu tư, tuy nhiên ở góc độ nào thì DAĐT cũng có một số đặc trưng sau : Thứ nhất: mỗi DA đầu tư đều có một mục tiêu rõ ràng cụ thể cần đạt tới. Thứ hai: DA đầu tư không phải là một nghiên cứu hay dự báo mà là một quá trình tác động tạo lên một thực thể mới phù hợp với mục tiêu mong đợi. Thứ ba: DA đầu tư là một hoạch định cho tương lai nên bao giờ cũng có độ ổn định và những rủi ro nhất định.
Thứ tư: DA đầu tư phải có thời gian và có giới hạn nhất định về nguồn lực. - Ý nghĩa của DA ĐT: DA ĐT là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết, đầy đủ, khoa học và toàn diện một dự kiến đầu tư trong tương lai. Đây là căn cứ quan trọng nhất để nhà đầu tư quyết định có nên tiến hành ĐT hay không, khi đã quyết định ĐT nó là cơ sở cho nhà đầu tư xây dựng kế hoạch ĐT theo dõi đôn đốc kiểm tra quá trình thực hiện DA. DA ĐT là phương tiện chủ yếu mà chủ đầu tư sử dụng để thuyết phục sự ủng hộ về mặt tài chính từ phía chính phủ, ngân hàng, các tổ chức tài chính và các nhà đầu tư khác.
Xét trên góc độ quản lý thì dự án đầu tư là cơ sở để các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét, phê duyệt cấp giấy phép đầu tư, là căn cứ quan trọng để đánh giá và đưa ra những điều chỉnh kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác dự án; và là cơ sở pháp lý để xem xét, xử lý khi có tranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh đầu tư. Còn đứng trên phương diện kế hoạch hoá, DA ĐT là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Như vậy, vai trò của DA ĐT trên các góc độ là khác nhau, nhưng dù đứng trên góc độ nào thì DA ĐT cũng bao giờ cũng có chung một chu trình như sau: 1. C h u trìn h c ủ a d ự án : Từ ý định về dự án đến việc xây dựng, thực hiện và kết thúc DA là cả một quá trình.
Quá trình này có thể chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn vận hành kết quả đầu tư. Trong mỗi giai đoạn diễn ra nhiều bước với nhiều công việc. Cụ thể là: -5- * Giai đoạn chuẩn bị đầu tư gồm các bước chính như sau: - Nghiên cứu cơ hội ĐT; - Nghiên cứu tiền khả thi; - Nghiên cún khả thi; - Thẩm định và ra quyết ĐT. * Giai đoạn thực hiện ĐT gồm các bước chính sau: - Khảo sát, thiết kế, lập dự toán; - Dự kiến mua thiết bị, công nghệ, vật tư kỹ thuật; - Tổ chức đấu thầu, chọn thầu, giao nhận thầu; - Thi công theo đúng thiết kế, tiến độ đã đề ra; - Tiến hành chạy thử; - Bàn giao đưa công trình vào khai thác ; * Giai đoạn vận hành kết quả đầu tư gồm các bước chính sau: - Tổ chức sản xuất, kinh doanh; - Kết thúc DA; - Đánh giá sau DA.
- Thanh lý, phát triển DA mới. Các giai đoạn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nếu giai đoạn chuẩn bị đầu tư làm tốt thì giai đoạn thực hiện đầu tư sẽ đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng tốt, DA vận hành đem lại hiệu quả cao và ngược lại. Như vậy, thẩm định DA ĐT là một khâu trong chuẩn bị ĐT, nhưng nó có vai trò hết sức quan trọng, và được xem là có tính quyết định đối với sự thành bại của một DA ĐT.1 Khái niệm thẩm định DA ĐT: Các DA ĐT sau khi được soạn thảo xong dù được nghiên cứu tính toán kỹ lưỡng thì mới chỉ qua bước khởi đầu. Để đánh giá tính hợp lý, tính hiệu quả, khả thi của DA và ra quyết định dự án có được thực hiện hay không phải trải qua quá trình kiểm tra, đánh giá một cách độc lập, tách biệt với quá trình soạn thảo dự án.
Quá trình đó gọi là thẩm định DAĐT. Vậy, thẩm định DA ĐT là việc tổ chức, xem xét, phân tích một cách khách quan toàn diện, độc lập những nội dung cơ bản của DA ĐT đồng thời đánh giá -6- chính xác những nhân tô'ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi của DA nhằm đưa ra quyết định ĐT một cách hiệu quả, an toàn. Đối với Ngân hàng việc cho vay DA ĐT thường là cho vay trung- dài hạn. Vì vậy, thẩm định DA ĐT cho vay trung- dài hạn là một nghiệp vụ chính trong công tác tín dụng của NHTM là DA có được Ngân hàng quyết định tài trợ hay không, nó xem xét lại tất cả các mặt của DA đưa ra kết luận cụ thể.
Nếu Ngân hàng làm tốt công tác này sẽ tạo tiền đề cho việc thu hồi cả vốn và lãi đúng hạn, tạo điều kiện cho vốn tín dụng luân chuyển nhanh, an toàn và hiệu quả.2 Cơ sở của việc thẩm định DA ĐT của Ngân hàng: Để có căn cứ thẩm định DA ĐT các cán bộ thẩm định phải điều tra, thu thập, tổng hợp và phân tích các nguồn thông tin về khách hàng bao gồm những nguồn sau: - Phỏng vấn trực tiếp người vay: Mục đích phỏng vấn là quan sát thái độ, phương phẩp và nội dung trả lời của khách hàng, phát hiện những mâu thuẫn và các vấn đề không nhất quán hoặc không trung thực giữa hồ sơ vay vốn và nội dung trả lời phỏng vấn. Qua đó có thể rút ra nhận xét về tư cách, năng lực, phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm, uy tín của người vay. - Những thông tin do khách hàng cung cấp: Đó chính là bộ hồ sơ vay vốn do Ngân hàng yêu cầu, bao gồm: + Giấy tờ chứng nhận tư cách pháp nhân hoặc thể nhân: Giấy phép thành lập, đăng ký kinh doanh; chứng chỉ hành nghề, điều lệ hoạt động; quyết định bổ nhiệm Tổng giám đốc (Giám đốc) và kế toán trưởng. Giấy phép đăng ký kinh doanh, bản sao chứng minh thư và hộ khẩu (đối với thể nhân).
+ Hồ sơ tài chính khách hàng: Các báo cáo tài chính theo quy định của Bộ tài chính, bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lun chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính và các báo cáo kiểm toán độc lập (nếu cô). Đối với khoản vay trung và dài hạn phải là báo cáo tài chính tối thiểu 2 năm liên tục gần nhất.